Trong khoảng thời gian đêm trừ tịch chờ năm mới đến, trẻ con sẽ được người lớn cho “áp tuế tiền” 压岁钱, tập tục này tượng trưng cho trong một năm luôn có tiền để dùng. Trong lịch sử Trung Quốc, tiền áp tuế có từ rất sớm. Tiền áp tuế sớm nhất gọi là “áp thắng tiền” 压胜钱, hoặc gọi là “đại áp thắng tiền” 大压胜钱, loại tiền này không phải là loại hoá tệ lưu thông ngoài thị trường, mà là vật tị tà hình đồng tiền chuyên đúc để đeo chơi. Vật phẩm đeo có hình dạng đồng tiền này xuất hiện sớm nhất vào đời Hán.

Ảnh: internet
Đời Đường, trong cung đình vào ngày xuân tục ban phát tiền thịnh hành. Đương thời, xuân tiết là vào “ngày Lập xuân”, ngày này trong cung triều bái nhau, trong dân gian chưa có tập tục này.
Trong Tư trị thông giám 资治通鉴 quyển 26 có chép chuyện khi Dương Quý Phi 杨贵妃 sinh con, “Huyền Tông đích thân đến thăm, vui mừng tặng cho Quý Phi ‘tẩy nhi kim ngân tiền’ 洗儿金银钱. “Tẩy nhi kim ngân tiền” nói ở đây ngoài để chúc mừng ra, ý nghĩa quan trọng hơn là đó là bùa hộ thân xua tà đuổi quỷ mà người lớn tặng cho đứa bé.
Sau thời Tống Nguyên, lấy ngày mồng 1 tháng Giêng thay cho ngày Lập xuân, gọi là Xuân tiết. Phong tục ngày xuân ban phát tiền diễn biến thành tập tục tặng áp tuế tiền cho trẻ con. Thời trước là tiền đồng, dùng một sợi dây đỏ xâu những đồng tiền lại thật chặt, cong thành hình con cá hoặc hình cây như ý, có khi thành hình con rồng, đặt nơi chân giường, gọi là “tiền long” 钱龙. Trên đồng tiền đúc những câu như “cát tường như ý” 吉祥如意, “trường mệnh bách tuế” 长命百岁, “phúc lộc thọ hỉ” 福禄寿喜 … cùng hình bát quái và 12 con giáp.
Sau thời Dân Quốc, diễn biến thành dùng giấy đỏ bao 100 đồng, ngụ ý “trường mệnh bách tuế”. Tặng áp tuế tiền cho lớp vãn bối đã thành niên, thì bao 1 đồng đại dương, tượng trưng cho “tài nguyên thịnh mậu” 财源盛茂, “nhất bản vạn lợi” 一本万利. Sau khi hoá tệ được đổi sang tiền giấy, gia trưởng sẽ chọn tiền giấy có số sê ri liền nhau để tặng cho trẻ con. Do bởi chữ 联 (liên) hài âm với chữ 连 (liên), mong đời sau “liên liên phát tài” 连连发财, “liên liên cao thăng” 连连高升.
Từ những điều trình bày ở trên không khó để phát hiện, phong tục về áp tuế tiền có nguồn gốc lâu đời, nó đại biểu cho một loại chúc phúc tốt đẹp của người lớn đối với lớp hậu sinh, nó là bùa hộ thân mà người lớn tặng cho trẻ con, bảo hộ con trẻ được mạnh khoẻ trong năm mới.
Đêm trừ tịch, vui nhất phải nói là trẻ con. Bởi vào đêm hôm đó, trẻ con sẽ có được áp tuế tiền 压岁钱. Khi thủ tuế 守岁, trẻ con mong nhiều nhất là ông bà và cha mẹ lúc nào sẽ cho chúng áp tuế tiền.
Tại sao cần phải thủ tuế và cho áp tuế tiền? Vùng nông thôn Hải Diêm 海盐 ở Triết Giang 浙江 có lưu truyền một câu chuyện như sau: Thời xưa, có một con tiểu yêu, mình đen tay trắng, tên gọi là “Tuý” 祟, hàng năm cứ vào đêm 30 tết là xuất hiện hại người. Đêm đó khi trẻ con ngủ say, con Tuý sẽ xuyên tường đục cửa vào nhà, dùng tay trắng sờ 3 lần lên đầu đứa bé đang ngủ, đứa bé thức dậy cất tiếng khóc, sau đó phát sốt mê sảng. Qua mấy ngày sau, nóng sốt giảm đi, nhưng đứa bé thông minh lanh lợi biến thành ngốc nghếch si dại. Mọi người sợ con Tuý đến hại trẻ đã thắp sáng đèn, ngồi quây quần không ngủ, gọi đó là “thủ tuế”. Có một người họ Quản 管, tại phủ Gia Hưng 嘉兴 mở một tiệm bán tương. Hai vợ chồng già có một đứa con bụ bẫm trắng trẻo, ngày bế đêm bồng. Đến đêm 30 tết, họ sợ con Tuý đến hại đứa bé nên đã đùa vui cùng đứa bé. Đùa chán, đứa bé đòi tờ giấy đỏ gói 8 đồng tiền, gói rồi mở, mở rồi gói, chơi đến lúc buồn ngủ, đứa bé bỏ gói tiền bên chiếc gối rồi ngủ. Hai vợ chồng không dám ngủ, ở bên cạnh con, suốt cả đêm canh con Tuý. Đến nửa đêm, một cơn gió to thổi đến làm bật tung cửa phòng, thổi tắt đèn. Chỉ thấy một người dáng lùn đen nhẻm giơ hai cánh tay trắng như tuyết vén màn, hướng đến đầu đứa bé định sờ. Đột nhiên, bên gối của đứa bé phát ra một luồng ánh sáng, con Tuý như gặp phải dòng điện vội rút tay về, kêu lên một tiếng rồi bỏ chạy. Vợ chồng họ Quản nói với mọi người câu chuyện bao giấy đỏ gói 8 đồng tiền doạ con Tuý sợ phải bỏ chạy. Từ đó mọi người đều bắt chước làm theo, đêm 30 sau bữa cơm, dùng giấy đỏ gói 8 đồng tiền đưa cho trẻ con, bảo chúng để bên cạnh gối. Quả nhiên, về sau con Tuý không dám đến hại đứa bé nữa.
Con Tuý sao lại sợ 8 đồng tiền gói trong giấy đỏ? Hoá ra, 8 đồng tiền là Bát tiên biến thành. Bát tiên nhìn thấy con Tuý không việc ác gì là không làm, tàn hại trẻ con, nên đã ngầm giúp. Vì thế, mọi người đã gọi 8 đồng tiền đó là “Bát tiên tiền”. Do bởi Bát tiên tiền có thể trấn áp được con Tuý, cho nên cũng gọi là “áp Tuý tiền” 压祟钱. Và cũng do bởi “tuý” 祟 hài âm với “tuế” 岁, nên lâu dần “thủ Tuý” 守祟 biến thành “thủ tuế” 守岁, “áp Tuý tiền” 压祟钱 cũng được đổi gọi là “áp tuế tiền” 压岁钱.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 20/02/2015
Mồng 2 tết Ất Mùi
Nguyên tác Trung văn
TRỪ TỊCH DẠ ĐÍCH ÁP TUẾ TIỀN
除夕夜的压岁钱
Trong quyển
TRUNG QUỐC DÂN TỤC VĂN HOÁ ĐẠI QUAN
中国民俗文化大观
(quyển trung)
Chủ biên: Dương Lợi Tuệ 杨利慧
Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2009