ĐẠO HỌC TÔNG SƯ – LÃO TỬ
Lão Tử 老子 (khoảng năm 571 – năm 471 trước công nguyên), tính Lí 李, danh Nhĩ 耳, tự Bá Dương 伯阳, còn gọi là Lão Đam 老聃, người làng Khúc Nhân 曲仁, hương Lệ 厉, huyện Khổ 苦 nước Sở thời Xuân Thu, Triết học gia và Tư tưởng gia vĩ đại thời cổ của Trung Quốc, người sáng lập phái Đạo gia học 道家学. Tinh hoa tư tưởng của ông là biện chứng pháp mộc mạc giản dị, chủ trương vô vi nhi trị, học thuyết của ông có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển triết học Trung Quốc.
Ẩn quân tử dã
Lão Tử tuy trong lịch sử Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn, nhưng đáng tiếc sự tích liên quan đến cuộc đời ông khó mà khảo chứng tường tận, ngay cả năm sinh năm mất của ông cũng không được lưu lại. Tư Mã Thiên 司马迁trong Sử kí 史记 khi viết truyện về ông, cũng nhân vì không thể khảo chứng ngày tháng năm sinh năm mất của ông, chỉ là nêu mấy truyền thuyết có khả năng liên quan với ông, xem như “dĩ nghi tồn nghi”, cuối cùng chỉ viết rằng “Lão Tử, ẩn quân tử dã” 老子, 隐君子也.
Lão Tử xuất thân trong một gia đình sĩ đại phu, là hậu duệ của Sử quan 史官 thế gia, từ nhỏ đã ham đọc sách, học thức sâu rộng. Khoảng năm 550 trước công nguyên, hậu kì thời Chu Linh Vương 周灵王, nhậm chức Thủ tàng thất sử 守藏室史 của vương triều Chu (quan lại quản lí sách vở thư tịch). Tại đây, ông để tâm vào thư tịch, kiến văn được mở rộng, đối với nhân thế càng có nhận thức sâu sắc, hình thành tư tưởng sâu xa huyền diệu, trở thành ngôi sao trí tuệ. Năm 520 trước công nguyên, Chu Cảnh Vương 周景王giá băng, nội bộ vương thất triều Chu phát sinh động loạn, đảng của Tử Cái 子丐 và Vương Tử Triều 王子朝tranh đoạt vương vị, Vương Tử Triều mang một số lớn điển tịch của triều Chu chạy sang nước Sở. Lão Tử bởi trách nhiệm, mất chức Thủ tàng thất sử. Về sau, Lão Tử thấy vương triều Chu suy vi, bèn cưỡi thanh ngưu đi về phía tây. Trên đường lúc ngang qua Hàm Cốc quan 函谷关, quan lệnh Doãn Hỉ 尹喜 biết ông sắp đi ẩn cư nên giữ ông lại, nói rằng:
- Ngài sắp đi ẩn cư, xin đem học thuyết kiến giải của ngài viết ra.
Theo bản ý của Lão Tử, Lão Tử không muốn lưu lại bất cứ văn tự nào, nhưng không nỡ với lời khuyên của Doãn Hỉ, cuối cùng ở lại Hàm Cốc quan mấy ngày, lưu lại bộ Đạo đức kinh 道德经 5000 lời. Sau khi sách viết xong, Lão tử bèn sống một cuộc sống ẩn cư, người đời sau không biết tung tích của ông.
Không gì không có trong “Đạo”
Đạo 道 là hạt nhân của học thuyết tư tưởng Lão Tử. Còn như thế nào là Đạo, từ trước tới nay là một vấn đề khiến mọi người đau đầu. Thiên mở đầu Đạo đức kinh là:
Đạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh.
道可道, 非常道. 名可名, 非常名
Nói rằng Đạo vừa không thể trực tiếp biểu đạt ra, cũng không thể xác định danh xưng. Nhưng đồng thời ông cũng cho rằng, Đạo tuy không thể định nghĩa nhưng có thể hình dung miêu hoạ. Lão Tử nói rằng, Đạo tồn tại phổ biến, không nơi nào mà không đến, không có gì mà không chứa, nhưng Đạo khác với cảm giác sự vật cụ thể, nhìn nó nhưng không thấy, nghe mà không thấy tiếng, sờ mà không được, là thứ mà cấu thành bản chất chung của vạn vật thiên địa. Đạo mà Lão Tử nói, là một khái niệm chung cực, là bản nguyên và quy luật phổ biến của vũ trụ. Lão Tử cảm giác được “Đạo”, nhưng khổ nỗi tìm không ra từ vựng chuẩn xác để biểu đạt, cho nên tạm dùng “Đạo” để đặt tên. Nhân đó học phái mà ông khai sáng được gọi là Đạo gia.
Trước Lão Tử, đối với căn nguyên sinh thành vạn vật, người ta chỉ suy luận là “thiên”, còn như “thiên” có căn nguyên hay không thì hoàn toàn không nói tới, mãi đến khi Lão Tử đề xuất “Đạo”. Lão Tử cho rằng, thiên địa vạn vật đều do Đạo sinh ra. Nhân đó, ông còn dùng ví dụ thông tục thậm chí mạnh dạn để nói rõ. Ông nói Đạo hoài thai nuôi dưỡng vạn vật, giống như sinh thực khí mẫu tính, liên miên bất tuyệt, sinh sinh bất tức, dưỡng dục thiên địa vạn vật.
Đồng thời Lão Tử cũng cho rằng, sau khi Đạo sinh thành vạn vật. lại làm căn nguyên trong tự thân của thiên địa vạn vật tồn tại. Ông nêu ví dụ rằng, kẻ sĩ thượng tầng cả ngày "dưỡng tôn xử ưu" 养尊处优 (1), không hiểu tình huống hạ tầng, nghe nói Đạo, chỉ dùng văn tự lí giải, cho rằng giản đơn, vội gấp thực hiện rộng rãi, cốt ở chỗ thành công ngay lập tức; kẻ sĩ trung tầng nghe nói Đạo, đối với thượng tầng hạ tầng biết một mà hiểu một nửa, nhận thức đối với đạo mơ hồ không rõ ràng, không biết thực hiện như thế nào; kẻ sĩ hạ tầng nghe nói Đạo, liền cười ha hả, bởi họ sống tại cơ tầng, nhập vào trong những sự việc vụn vặt của dân chúng, phát hiện Đạo bao hàm trong những sự việc mà họ luôn tiếp xúc trong cuộc sống thường ngày, chẳng có gì thần kì, khiến không thể không cười ha hả. “Đạo” tuyệt đối bao hàm trong sự vật cụ thể một cách tương đối. Với cách nhìn của Lão Tử, nếu không hiểu được cuộc sống thường ngày thì không thể làm rõ “Đạo”, cũng không thể hành “Đạo” ..... (còn tiếp)
Chú của người dịch
1- Dưỡng tôn xử ưu 养尊处优: Ví người ở vào địa vị tôn quý, sống một cuộc sống dư dả. Thành ngữ “dưỡng tôn xử ưu” này xuất xứ từ Thướng Hàn xu mật thư 上韩枢密书 của Tô Tuân 苏洵:
Thiên tử giả, dưỡng tôn nhi xử ưu, thụ ân nhi thu danh, dữ thiên hạ vi hỉ lạc giả dã.
天子者, 养尊而处优, 树恩而收名, 与天下为喜乐者也.
(Thiên tử là người ở vào địa vị tôn quý, sống một cuộc sống dư dả, dựa vào việc ra ân huệ mà có được danh tiếng, tạo điều kiện để thiên hạ được vui vẻ an lạc)
http://chengyu.t086.com/cy11/11089.html
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 14/10/2020
Nguyên tác Trung văn
ĐẠO HỌC TÔNG SƯ – LÃO TỬ
道学宗师 - 老子
Trong quyển
NHẤT BẢN THƯ ĐỘC ĐỔNG
TRUNG QUỐC TRUYỀN THUYẾT VĂN HOÁ
(quyển 1)
一本书读懂中国传说文化
Tác giả: Thạch Khai Hàng 石开航
Bắc Kinh: Trung Hoa Hoa kiều xuất bản xã, 2012, tái bản 2019
Chính phản tương ỷ biện chứng pháp
Lão Tử có câu nói nổi tiếng:
Hoạ hề phúc chi sở ỷ, phúc hề hoạ chi sở phục.
祸兮福之所倚,福兮祸之所伏
Ý nghĩa là, hoạ là tiền đề sản sinh ra phúc, còn phúc lại bao hàm nhân tố hoạ, hoạ phúc không phải là luôn vĩnh hằng bất biến. Câu chuyện “Tái ông thất mã” đã thuyết minh một cách sinh động đạo lí này.
Ngày trước có một người sống ở nơi cách xa biên tái không xa. Ngày nọ, con ngựa mà anh ta nuôi bỏ chạy ra ngoài biên tái. Hàng xóm đều đến tiếc cho ông, phụ thân của anh ta lại nói rằng: “Làm sao biết đó chẳng phải là một việc tốt sao?” Qua mấy tháng sau, con ngựa đó trở về, lại còn dẫn theo một con tuấn mã Hung Nô. Hàng xóm đến chúc mừng, phụ thân của anh ta nói rằng: “Làm sao biết đó chẳng phải là một việc xấu sao?” Sau đó, anh ta nhân vì cưỡi ngựa mà không điều khiển được, kết quả ngã ngựa gãy chân. Hàng xóm đều đến an ủi, phụ thân của anh ta lại nói: “Làm sao biết đó lại chẳng phải là một việc tốt sao?” Một năm sau, Hung Nô cử binh xâm lược, trai tráng gần đó đều bị bắt đi làm lính, rồi hi sinh trong chiến tranh. Anh ta do vì gãy chân nên không xuất chinh, bảo toàn được tính mệnh cùng phụ thân sống với nhau.
Câu chuyện này cho chúng ta biết, việc tốt việc xấu có thể chuyển hoá cho nhau, trong điều kiện nhất định, phúc sẽ biến thành hoạ, hoạ cũng có thể biến thành phúc. Đó chính là tinh hoa và là điểm sáng của tư tưởng Lão Tử - biện chứng pháp mộc mạc giản dị.
Lão Tử cho rằng, tất cả vạn vật trong vũ trụ đều có hai mặt chính và phản đối lập, cả hai bổ sung phối hợp cho nhau, nương vào nhau, hơn nữa trong một điều kiện nhất định có thể hỗ tương chuyển hoá. Ví dụ, chỉnh bởi vì có xấu nên mới biết như thế nào là đẹp, nếu không có xấu thì sẽ không biết đẹp, đẹp xấu là tương đối; và như âm thanh to lớn nhờ vào yên tĩnh mới có thể thể hiện ra; sắc thuần trắng trong sắc ô trọc mới có thể thể hiện ra. Với cách nhìn của Lão Tử, thiện ác, hữu vô, nan dị, trường đoản, cao hạ, âm thanh, tiền hậu đều là tiền để hỗ tương cho sự tồn tại của nhau, không có cái này thì cái kia cũng không tồn tại, đồng thời ông đề xuất một loạt những quan điểm như dĩ nhu khắc cương 以柔克刚, đại thành nhược khuyết 大成若缺 ... rất đặc biệt.
Vô vi nhi trị
Về phương lược trị quốc, Lão Tử đề xuất “vô vi nhi trị” 无为而治. Vô vi nhi trị chính là không làm bất cứ điều gì ngược lại với quy luật tự nhiên, tổn hại quy phạm đạo đức, trái với phép tắc xã hội, có hại chúng sinh. Nhưng vô vi ở đây hoàn toàn không phải là cái gì cũng không làm, mà là hàm nghĩa là không làm xằng, không làm bậy, mà phải thuận ứng với thái thế khách quan. Lão Tử nêu ví dụ: trị lí quốc gia cũng giống như chiên một con cá nhỏ, không nên thường lật qua lật lại. Đối với những người làm chính trị, cần tránh cách làm cực đoan, xa xỉ, quá độ. Dựa theo quy luật tự nhiên mà định ra pháp luật, chế độ tương ứng, không tuỳ tiện thay đổi. Mọi người trong pháp luật, chế độ như vậy, ra sức phát huy thông minh tài cán của mình, xã hội tự nhiên sẽ được ổn định.
Chủ trương “vô vi nhi trị” từng là phương lược trị quốc của một số triều đại trong lịch sử Trung Quốc. Cái học Hoàng Lão 黄老đầu thời Tây Hán đã hấp thụ tư tưởng vô vi nhi trị, thích ứng với hình thế sau động loạn chính trị cuối đời Tần, dân tâm hướng tới một cuộc sống ổn định, cường điệu thanh tĩnh vô vi, chủ trương giảm nhẹ thuế khoá dao dịch, để dân được nghỉ ngơi, ít can thiệp hoặc không can thiệp vào đời sống chính trị và đời sống kinh tế của nhân dân, có tác dụng tích cực đối với sự ổn định và phát triển xã hội đương thời. Như Hán Văn Đế 汉文帝 tại vị 23 năm, cung thất, viên lâm, cẩu mã, phục sức và khí cụ ngự dụng không tăng thêm thứ gì. Ông từng định xây dựng một bình đài lộ thiên, triệu tập thợ bàn tính, tốn gần 100 cân vàng. Ông cảm thán nói rằng: “100 cân vàng tương đương với gia sản của một hộ trung bình”. Thế là bỏ ý định đó. Những kẻ thống trị đầu đời Đường và đầu đời Tống cũng từng lợi dụng tư tưởng vô vi nhi trị để điều hoà xử lí mâu thuẫn xã hội đương thời, đồng thời có được hiệu quả. Như Tể tướng Triệu Phổ 赵普 đầu đời Tống, mỗi khi nhận được văn thư của các sĩ đại phu vạch trần tố giác lẫn nhau, chẳng xem qua gì cả, cho một mồi lửa, bề ngoài giống như không có trách nhiệm, nhưng thực tế là ngăn chặn việc mưu tính hại nhau, giữ được sự “an định đoàn kết” lúc bấy giờ.
Có thể thấy, vô vi nhi trị hoàn toàn không phải là lấy “vô vi” 无为 làm mục đích, mà là lấy “hữu vi” 有为 làm mục đích, tức lấy quy luật của “vô vi” mà “vi” 为 (làm), phát huy tính năng động chủ quan của con người. Nếu con người can thiệp tiến trình phát triển của sự vật, dựa theo nguyện vọng chủ quan nào đó mà can dự hoặc cải biến trạng thái tự nhiên của sự vật, thì kết quả chỉ là “yết miêu trợ trưởng” 揠苗助长 (nhón mạ cho mau lớn) (1), rước lấy thất bại. (hết)
Chú của người dịch
1- Yết miêu trợ trưởng揠苗助长: thành ngữ này xuất xứ từ Mạnh Tử - Công Tôn Sửu thượng 孟子 - 公孙丑上.
Tống nhân hữu mẫn kì miêu chi bất trưởng nhi yết chi giả, mang mang nhiên quy, vị kì nhân viết: “Kim nhật bệnh hĩ! Dư trợ miêu trưởng hĩ!” Kì tử xu nhi vãng thị chi, miêu tắc cảo hĩ.
宋人有闵其苗之不长而揠之者, 芒芒然归, 谓其人曰: “今日病矣! 予助苗长矣!” 其子趋而往视之, 苗则槁矣.
(Có người nước Tống lo lắng mạ của mình không lớn bèn nhón chân mạ cao lên. Làm cả ngày mệt nhọc, về đến nhà nói với người nhà rằng: “Hôm nay mệt quá! Ta đã giúp cho mạ mau lớn.” Người con nghe nói vội chạy ra ruộng xem, mạ đã khô héo hết.)
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 15/10/2020
Nguyên tác Trung văn
ĐẠO HỌC TÔNG SƯ – LÃO TỬ
道学宗师 - 老子
Trong quyển
NHẤT BẢN THƯ ĐỘC ĐỔNG
TRUNG QUỐC TRUYỀN THUYẾT VĂN HOÁ
(quyển 1)
一本书读懂中国传说文化
Tác giả: Thạch Khai Hàng 石开航
Bắc Kinh: Trung Hoa Hoa kiều xuất bản xã, 2012, tái bản 2019