Đền Quán Thánh, tên chữ là Trấn Vũ Quán, có từ đời Lý Thái Tổ (1010 - 1028), thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, là một trong bốn vị thần được lập đền thờ để trấn giữ bốn cửa ngõ thành Thăng Long khi xưa (Thăng Long tứ trấn).
Nguồn: https://sodulich.hanoi.gov.vn/
Bốn ngôi đền đó là: Đền Bạch Mã (trấn giữ phía Đông kinh thành); Đền Voi Phục (trấn giữ phía Tây kinh thành); Đền Kim Liên (trấn giữ phía Nam kinh thành); Đền Quán Thánh (trấn giữ phía Bắc kinh thành). Đền Quán Thánh nằm bên cạnh Hồ Tây, cùng với chùa Kim Liên và chùa Trấn Quốc tạo nên sự hài hòa trong kiến trúc cảnh quan và trong văn hóa tín ngưỡng đối với cả khu vực phía Tây Bắc của Hà Nội

Đền Quán Thánh Hà Nội
Lịch sử hình thành của Đền Quán Thánh
Đền Quán Thánh được xây dựng từ năm 1010, thời kỳ đầu nhà Lý. Đền được xây dựng thờ Huyền Thiên Trấn Vũ nên được lấy tên là Trấn Vũ Quán. Tới thời kỳ nhà Nguyễn, khi vua Minh Mạng đi tuần thú Bắc Thành đã đổi tên là Chân Vũ Quán. Tuy nhiên, dân chúng thờ tự chỉ công nhận hai tên gọi. Đó là Trấn Vũ Quán và Đền Quán Thánh. Đền Quán Thánh đã được trùng tu 7 lần từ năm 1618 tới năm 1941. Các mốc thời gian trùng tu đều được ghi lại trên văn bia. Tổng thể kiến trúc sau khi trùng tu bao gồm cổng Tam Quan 3 lối vào, sân, 3 lớp nhà. 3 lớp kiến trúc của Đền bao gồm nhà tiền tế, trung tế và hậu cung. Qua khoảng sân, nhà tiền tế được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống. Với mái ngói đỏ và những hình tượng phù điêu đặc sắc. Phía trong Đền là những cột gỗ và hoành phi sơn son thiếp vàng nổi bật. Phía bên trong của Đền được đặt pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ đúc bằng đồng đen. Pho tượng được khởi công xây dựng từ năm 1677, đời Lê Hy tông. Bức tượng cao 3,96 m có đường kính chu vi rộng tới 8 m.

Thánh Tượng của Đức Huyền Thiên Trấn Vũ
Đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, là một trong bốn vị thần được lập đền thờ để trấn giữ bốn cửa ngõ thành Thăng Long khi xưa (Thăng Long tứ trấn). Bốn ngôi đền đó là: Đền Bạch Mã (trấn giữ phía Đông kinh thành); Đền Voi Phục (trấn giữ phía Tây kinh thành); Đền Kim Liên (trấn giữ phía Nam kinh thành); Đền Quán Thánh (trấn giữ phía Bắc kinh thành). Đền Quán Thánh nằm bên cạnh Hồ Tây, cùng với chùa Kim Liên và chùa Trấn Quốc tạo nên sự hài hoà trong kiến trúc cảnh quan và trong văn hoá tín ngưỡng đối với cả khu vực phía Tây Bắc của Hà Nội.
Đền được xây dựng vào đầu thời nhà Lý. Từng trải qua nhiều đợt trùng tu vào các năm 1618, 1677, 1768, 1836, 1843, 1893, 1941 (các lần trùng tu này được ghi lại trên văn bia). Đợt trùng tu năm Đinh Tỵ niên hiệu Vĩnh Trị thứ 2 tức đời vua Lê Hy Tông: Trịnh Tạc ủy cho con là Trịnh Căn chủ trì việc xuất của kho để di tạo Trấn Vũ Quán và pho tượng Thánh Trấn Vũ. Vị quan trực tiếp chỉ huy đúc tượng Thánh Huyền thiên Trấn Vũ là Vũ Công Chấn. Ông cho đúc tượng Huyền thiên Trấn Vũ bằng đồng hun, thay cho pho tượng bằng gỗ trước đó. Năm Cảnh Thịnh 2 (1794) đời vua Quang Toản, viên Đô đốc Tây Sơn là Lê Văn Ngữ cho đúc chiếc khánh đồng lớn.
Đến thời nhà Nguyễn, vua Minh Mạng khi ra tuần thú Bắc Thành đã cho đổi tên đền thành Chân Vũ quán. Ba chữ này được tạc bằng Hán tự trên nóc cổng tam quan của đền. Tuy nhiên, trên bức hoành trong Bái đường vẫn ghi là Trấn Vũ quán. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm đền và ban tiền đúc vòng vàng đeo cho tượng Trấn Vũ. Đền được công nhận di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia đợt đầu năm 1962.
Theo truyền thuyết, Trấn Vũ vốn là một vị thần trong hệ thần Đạo giáo Trung Quốc, sau khi du nhập vào nước ta, hình tượng Trấn Vũ đã được Việt hóa và trở thành vị thần trấn giữ phương Bắc (trong Thăng Long Tứ trấn), đồng thời được chuyển hóa thành vị thần chống lụt và trị thủy, thậm chí, Trấn Vũ còn được phong thành Phật... Do vậy, hình thức tạo tượng Trấn Vũ ở nước ta cũng ít nhiều mang tính hỗn dung để thích nghi với tâm thức tín ngưỡng dân gian của người Việt. Theo đó, về cơ bản, tượng đã được đúc theo “Thánh tích” - “mặc áo bào đen, trong hình hài Đạo sĩ” và trở thành một tác phẩm nghệ thuật có giá trị độc đáo, như một trường hợp “cá biệt” trong dòng chảy nghệ thuật tạo tượng Việt giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII.
Tương truyền đền có từ đời Lý Thái Tổ (1010-1028). Vũ Tam Lang ghi trong cuốn Kiến trúc cổ Việt Nam là đền được khởi dựng năm 1012. Theo Vũ Tam Lang thì đền được di dời về phía Nam hồ Tây trong đợt mở rộng Hoàng thành Thăng Long năm 1474 của vua Lê Thánh Tông, nhưng diện mạo được tu sửa vào năm 1836-1838 đời vua Minh Mạng. Các bộ phận kiến trúc đền sau khi trùng tu bao gồm tam quan, sân, ba lớp nhà tiền tế, trung tế, hậu cung. Các mảng chạm khắc trên gỗ có giá trị nghệ thuật cao. Bố cục không gian thoáng và hài hòa. Hồ Tây phía trước mặt tiền tạo nên bầu không khí mát mẻ quanh năm.
Ngôi chính điện (bái đường) nơi đặt tượng Trấn Vũ có 4 lớp mái (4 hàng hiên). Chính giữa là bức hoành phi đề "Trấn Vũ Quán". Hai tường hồi có khắc các bài thơ ca ngợi ngôi đền và pho tượng Trấn Vũ của các tác giả thời nhà Nguyễn như Nguyễn Thượng Hiền, Vũ Phạm Hàm... Nhà Tiền tế có khám thờ và án thư cùng tượng thờ vị quan đúc tượng Trấn Vũ là Luân Quận Công Vũ Công Chấn.
Pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được đúc bằng đồng đen vào khoảng gần cuối thế kỷ XVII. Các tư liệu thành văn tại di tích như Tấm biển đồng “Đề Chân Vũ quán”, do vua Thiệu Trị ngự đề, đúc năm Thiệu Trị thứ 2 (1842); Bia trùng tu quán Trấn Vũ, khắc năm Tự Đức thứ 10 (1857), do Nguyên Học chính tỉnh Thanh Hóa, tiến sĩ Lê Huy Vĩnh soạn, cho biết: Quán Trấn Vũ nằm ở phía Bắc của thành (Thăng Long) là để trấn giữ phương Bắc. Pho tượng đồng trong quán được đúc từ đời Lê, niên hiệu Vĩnh Trị (1676 - 1680); Bia “Quán Chân Vũ”, dựng vào năm Thành Thái thứ 5 (1893), do Khâm sai Bắc Kỳ, Kinh lược Đại sứ Hoàng Cao Khải soạn, cho biết: Phía Bắc thành Thăng Long có quán Chân Vũ thờ Huyền Thiên đại đế. Quán dựng vào thời Lý, tượng đúc vào thời Lê; Văn khắc tại mặt sau bệ tượng Trấn Vũ, thời Thành Thái thứ 5 (1893), cho biết: Tượng (đồng) Chân Vũ Đại đế được đúc vào thời Lê, niên hiệu Chí Hòa (Niên hiệu này khắc nhầm Chính Hòa thành Chí Hòa, vì lịch sử Việt Nam không có niên hiệu Chí Hòa).Tượng cao 3,47m, chu vi 8m, nặng ước khoảng 4 tấn, tọa trên tảng đá cẩm thạch cao 1,2m. Tượng Trấn Vũ đền Quán Thánh được cấu thành từ ba khối riêng biệt: tượng (đúc bằng đồng); bệ trên (chất liệu đá); bệ dưới (xây gạch, ốp đá).
Phần tượng:
Tượng có đầu tròn, đội mũ ni, tai to, khuôn mặt đầy đặn với đôi mắt mở to, mũi cân phân, miệng ngậm, râu dài… toát lên thần thái của một Đạo sĩ. Trên mình tượng khoác áo choàng, trong mặc áo giáp, lưng thắt đai hổ phù, xung quanh điểm xuyết hoa văn hình lá đề, có các hạt tròn bao quanh. Áo choàng gấp nhiều nếp, vạt sau phủ xuống dưới hông, ống áo thụng, buông xuống khá chùng. Áo giáp với hai vạt trên ngực trang trí đồ án hoa sen; rồng năm móng ẩn trong những cụm mây, miệng râu cá trê, thân mảnh, trông khá giữ tợn. Ngoài mảng hoa văn trung tâm này, còn có hoa văn ô vuông khắc nổi, bên trên điểm xuyết hoa thị 8 cánh. Phía dưới áo giáp và hai đầu gối trang trí hoa văn “tổ ong”, với bố cục dày và chặt chẽ. Tay trái tượng trong tư thế “bắt ấn”, co ngang rồi khép trước ngực, tay phải tỳ trên đốc kiếm, mũi kiếm cắm xuống lưng một con rùa. Quấn quanh kiếm là một con rắn trong tư thế đang lao từ trên xuống. Hai chân tượng để trần, buông thõng xuống, đặt trên mặt bệ bát giác.
Xét về tổng thể, tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh tuy có khá nhiều nét tương đồng với tượng Trấn Vũ ở đền Cự Linh (quận Long Biên, thành phố Hà Nội) nhưng lại có phong thái “uy nghi”, “hùng dũng”, có tính áp chế, rất ít gặp trong phong cách tạo tượng của người Việt vào khoảng thế ký XVII - XVIII.
Phần bệ trên:
Là một khối đá, được tạc khá thô phác, mang hình dáng của một khối đá tự nhiên, chiều cao 84 cm, mài nhẵn trên mặt, toàn bộ ở trên một bệ lớn hơn có hình khối bát giác.
Phần bệ dưới:
Bệ cao 124cm, là một khối hình bát giác, với 4 cạnh dài, kích thước dao động từ 222 - 224cm và 4 cạnh ngắn, kích thước giao động từ 70 - 71cm. Văn khắc chữ Hán trên bệ ghi: “Nước Đại Nam, ngày 20 tháng 9 năm Thành Thái thứ 5”. Bài văn khắc này do Phụ chính Đại thần, hàm Thái tử Thiếu bảo, Vũ Hiển điện Đại học sĩ, chức Khâm sai Bắc Kỳ Kinh lược Đại sứ, tước Diên Mậu tử, hiệu Thái Xuyên - Hoàng Cao Khải kính soạn. Minh văn trên cho biết, bệ này được xây thêm qua đợt trùng tu năm 1893.
Trang trí trên bệ chủ yếu là hoa văn cánh sen, sư tử hý cầu, voi, chim, pháp khí, đồ thờ tự, vân hóa…, mang phong cách điển hình nghệ thuật giai đoạn cuối thế kỷ XIX.
Nguồn gốc, xuất xứ của tục thờ này có nhiều kiến giải khác nhau, nhưng cốt lõi là sự phản ánh tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, được cụ thể hóa là sùng bái sao (các vị tinh tú), sau được bồi đắp bởi tín ngưỡng sùng bái linh vật (rùa kết hợp với rắn), cuối cùng được lịch sử hóa, nhân cách hóa trở thành một vị thần có hình hài của một con người cụ thể, có lai lịch rõ ràng, nhưng mang đậm yếu tố huyền ảo và thần bí dân gian.
Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, Trấn Vũ là vị thần chống lụt, trị thủy có liên quan tới tín ngưỡng nông nghiệp trồng lúa nước.
Ở đền Quán Thánh, một trong Tứ trấn của Thăng Long - Hà Nội xưa thì Trấn Vũ là vị thần trấn giữ phương Bắc - mối hiểm họa thường xuyên của dân tộc trong suốt dặm dài lịch sử.
Hiện nay, ngoài tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh, tượng Trấn Vũ đền Cự Linh (đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật Quốc gia năm 2015) là những cổ vật được đúc bằng đồng với kích thước lớn của người Việt còn lại không nhiều. Điểm qua, có thể kể tới pho tượng A Di Đà ở đảo Cát Hải (Hải Phòng), có kích thước tương đương với một người trưởng thành, mang phong cách nghệ thuật của thế kỷ XVII; một số khẩu súng thần công được đúc vào cuối thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn; bộ Cửu đỉnh (đúc thời Minh Mạng), hiện đang được đặt trong sân Thế Miếu (Đại nội Huế); tượng Phật chùa Ngũ Xã (Hà Nội) - được đúc vào khoảng giữa thế kỷ XX. Trong mối tương quan giữa tượng Trấn Vũ đền Quán Thánh và số cổ vật này, nhận thấy như sau:
- Tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh mang nhiều nét khác biệt so với tượng Trấn Vũ đền Cự Linh và những tượng thờ của người Việt được tạo tác cùng thời (thế kỷ XVII - XVIII). Có lẽ, vì Trấn Vũ là vị thần có xuất xứ từ phương Bắc, nên các nghệ nhân đúc đồng xưa đã cố ý tạo tác sao cho tượng gần gũi với phong cách nghệ thuật phương Bắc nhất. Theo đó, những chi tiết tạo hình trên tượng, về cơ bản đều được mô phỏng theo truyền thuyết - Thánh tích. Trong tư cách là một vị thần trấn trị phía Bắc kinh thành Thăng Long và bối cảnh lịch sử - xã hội đương thời, phong thái “uy nghi”, “hùng dũng”, mang tính áp chế của tượng được xem như một sự lựa chọn khá hợp lý và cần thiết.
- Qua di sản văn hóa và tư liệu lịch sử, chúng ta có thể khẳng định, Việt Nam có một truyền thống đúc đồng từ thời Đông Sơn (qua sưu tập trống đồng và hiện vật thuộc văn hóa Đông Sơn phong phú). Truyền thống này luôn được kế thừa trong suốt thời kỳ trung đại và được duy trì đến tận ngày nay. Từ thời Lý, Việt Nam đã nổi tiếng với những kiệt tác đúc đồng thể khối lớn, như “An Nam tứ đại khí”, nhưng do nhiều nguyên nhân mà những tác phẩm này đã bị thất lạc hoặc hủy hoại. Vì vậy, những pho tượng được đúc bằng đồng, thể khối lớn, như tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh đã trở thành nguồn tư liệu sáng giá để các nhà nghiên cứu tìm hiểu về kỹ thuật đúc đồng của người Việt, cùng những vấn đề về lịch sử - văn hóa, kinh tế - xã hội ở nước ta thời trung đại, đặc biệt là trong giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII.
- Nguồn gốc cùng giá trị của pho tượng Trấn Vũ tại đền Quán Thánh đã được tư liệu Hán Nôm, truyền thuyết và nhiều công trình nghiên cứu xác nhận. Đó là những căn cứ xác đáng để khẳng định rằng, đây là một tác phẩm đúc đồng thể khối lớn tiêu biểu của thời Lê Trung hưng và là một tiền đề quan trọng cho việc định hình phong cách tạo tượng Trấn Vũ cùng một số tượng thờ khác ở các giai đoạn sau.
Nguồn: https://sodulich.hanoi.gov.vn/