Lập xuân

Thứ năm, 02/09/2021, 15:58

Lập xuân 立春 khoảng trước sau nguyên đán, là tiết xuân của người xưa. Mọi người thích mùa xuân, mùa xuân muôn vật bừng tỉnh dậy, mặt đất bao phủ một màu xanh mới, cho nên Lập xuân trước giờ là một lễ tiết trọng yếu, kinh sư  và trong cung đều có hoạt động nghinh xuân, nghinh khí.

lap-xuan
         

       Thời Đông Hán, sứ giả nghinh xuân cầm cờ phan màu xanh, đầu vấn khăn xanh, đi đến phía đông ngoại thành long trọng nghinh xuân. Trước khi sứ giả nghinh xuân đến, có một đồng nam trẻ đẹp, mặc áo xanh, đầu trùm khăn xanh, giả đóng vai tượng trưng cho mùa xuân, đứng tại cánh đồng phía đông ngoại thành. Sau khi sứ giả nghinh xuân đến, đồng nam xuất hiện, biểu minh cho mùa xuân đã giáng lâm, sứ giả nhìn thấy liền quỳ xuống lễ bái, sau đó đưa mùa xuân về. Thế là kinh thành đầy sắc xanh, cung cấm đầy sắc xanh, cả một một sức sống tràn trề.

      Lập xuân đến, đất nước nông nghiệp Trung Quốc liền bận rộn việc xuân canh. Thời Bắc Tống và Nam Tống cực kì coi trọng lễ tiết Lập xuân này. Lúc Lập xuân, quan địa phương của kinh thành đem “xuân ngưu” 春牛dâng hiến lên cung cấm của triều đình, dùng làm “tiên xuân” 鞭春(1) biểu thị khuyến nông. Thời Bắc Tống phủ Khai Phong 开封 dâng tặng đại xuân ngưu, thời Nam Tống do phủ Lâm An 临安 dâng tặng. “Xuân ngưu” được làm từ gỗ, cũng còn gọi là “thổ ngưu” 土牛. Trong Tuý Ông đàm lục 醉翁谈录có nói, thời Tống, các xuân ngưu làm ra thì xuân ngưu của phủ Chân Định 真定 là lớn nhất.
         

       Chẳng qua, xuân ngưu làm ra và dâng lên là do phủ Khai Phong hoàn thành. Trong sử thư có nói, trước Lập xuân một ngày, phủ Khai Phong tiến dâng xuân ngưu đưa vào cung để làm lễ “tiên xuân”. Ở hai huyện Khai Phong 开封và Tường Phù 祥符thì đưa xuân ngưu đến trước phủ. Sáng sớm hôm đó, phủ liêu thực hiện “đả xuân”, nghi thức cũng giống như các châu quận. Bên trái bên phải của phủ, bách tính bán những tiểu xuân ngưu. Ngày xuân, Tể chấp, thân vương bách quan đều tặng những phan thắng 幡胜 (2) bằng vàng hoặc bạc. Nơi nội đình, hoạn quan còn dùng dây tơ ngũ sắc đánh vào tiên ngưu, đó chính là sự kiện mà gọi là “đả xuân” 打春.         

     Đời Tống, ngày Lập xuân hoàng đế cũng ban thưởng các loại phan thắng cho các cận thần ở kinh thành. Phan thắng là vật trang sức có màu sắc được làm từ những mảnh vàng bạc mỏng và lụa, thịnh hành vào đời Đường, đặc biệt cực thịnh vào đời Tống. Trong Tuý Ông đàm lục 醉翁谈录có nói: ngày hôm đó, từ Lang quan, Ngự sử, Tự giám trưởng, nhị trở lên đều tặng xuân phan thắng, dùng lụa làm thành. Cận thần đều được tặng thêm ngân thắng. Sau khi phủ Khai Phong làm lễ “tiên ngưu”, các quan cùng nhau yến ẩm, sau đó vào triều bái tạ.

Chú của người dịch
1- Tiên xuân 鞭春: cũng gọi là “tiên xuân ngưu” 鞭春牛, “tiên ngưu” 鞭牛, đây là một dân tục truyền thống đặc biệt vùng Ngô Việt. Ngày Lập xuân hoặc bắt đầu xuân tiết, người ta làm ra những con trâu đất nhằm mục đích khuyến nông. Châu huyện cùng nông dân dùng roi đánh vào trâu đất tượng trưng cho vụ cày cấy mùa xuân bắt đầu, lấy điềm được mùa, khuyến khích cày cấy. “Tiên xuân ngưu” cũng gọi là “tiên thổ ngưu” có khởi nguyên tương đối sớm. Trong Chu lễ - Nguyệt lệnh 周礼 - 月令có ghi:
Xuất thổ ngưu dĩ tống hàn khí (3)
出土牛以送寒气
(Làm trâu đất để tống khí lạnh)
Về sau theo đó mà bảo lưu, nhưng đổi lại vào mùa xuân, thịnh hành vào hai đời Đường và Tống, đặc biệt là từ sau khi Tống Nhân Tông ban bố Thổ ngưu kinh 土牛经, phong tục “tiên thổ ngưu” càng quảng bá rộng rãi, trở thành nội dung trọng yếu trong văn hoá dân tục truyền thống.
          Theo https://baike.baidu.com/item
2- Phan thắng 幡胜: một loại vật trang sức được làm từ những mảnh vàng bạc mỏng hoặc từ lụa. Nhân vì có hình dạng giống cờ phan nên có tên là “phan thắng”. Vào ngày xuân phan thắng được dùng để trang sức hoặc dùng làm quà tặng nhau.
3- Câu này được chép vào tháng Mạnh đông trong Lễ kí - Nguyệt lệnh 禮記 - 月令, không phải ở Chu lễ 周礼.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 04/02/2018
                                                   Lập xuân 19 tháng Chạp năm Đinh Dậu

Nguồn
HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
皇朝典故纪闻
Tác giả: Hướng Tư 向斯
Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002
 

TIÊN XUÂN

          “Lập xuân” 立春tục gọi là “đả xuân” 打春, là nguyệt tiết của tháng Giêng theo lịch nhà Hạ, có lúc cũng ở vào tháng Chạp, ước khoảng ngày 4 tháng 2 dương lịch. Theo cách tính truyền thống, sau tiết Đại hàn 15 ngày sao Đẩu chỉ đúng vào hướng đông bắc là Lập xuân, khí ấm bốc lên, mùa xuân bắt đầu.
          Lập xuân là khởi đầu và kết thúc của 4 mùa, đánh dấu sự kết thúc của mùa đông và sự khởi đầu của mùa xuân, cho nên thời cổ cho rằng nó là một lễ tiết quan trọng. Tại Trung Quốc, sớm từ đời Chu đã có phong tục “nghinh xuân” “tiếp xuân”.
Theo Lễ kí – Nguyệt lệnh 礼记 - 月令có ghi:
Chu thiên tử dĩ Lập xuân chi nhật thân suất công khanh chư hầu đại phu Nghinh xuân vu đông giao (1)
          周天子以立春之日亲率公卿诸侯大夫迎春于东郊
          (Ngày Lập xuân Chu thiên tử đích thân dẫn công khanh chư hầu đại phu ra phía đông ngoại thành cử hành lễ Nghinh xuân)
          Trong Hán thư – Giao tự kí 汉书 - 郊祀记có ghi:
          Nghinh xuân tế Thanh Đế, Câu Mang, bách quan y giai thanh, quận quốc huyện quan, hạ chí lệnh sử, phục thanh trách.
          迎春祭青帝, 勾芒, 百官衣皆青, 郡国县官, 下至令史, 服青帻.
     (Lễ Nghinh xuân tế Thanh Đế, Câu Mang, bách quan y phục đều xanh, quận quốc huyện quan xuống đến lệnh sử đều vấn khăn xanh)
          Đến nay, đại bộ phận vùng Sơn Đông 山东vẫn còn lưu hành phong khí này. Ngày Lập xuân, nam nữ già trẻ đều ra hoạt động ngoài đồng gọi là “nghinh xuân” “tiếp xuân”. Vùng Đức Châu 德州, mọi người kết bầy  ra khỏi thôn đi về hướng đông, không cần biết xa gần, chỉ cần gặp được người mặc áo đỏ, đội mũ đỏ, choàng khăn đỏ hoặc xách túi đỏ, coi như là “nghinh xuân”.
          “Lập xuân” còn gọi là “đả xuân”, khẳng định nó có một lai lịch đặc thù.
          Nguyên là, thời xưa mọi người ngoài hoạt động “nghinh xuân” ra, còn lưu hành “đả xuân” 打春 hoặc “tiên xuân” 鞭春, cũng chính là đánh vào “xuân ngưu” 春牛bằng đất. Tập tục này cũng có lịch sử lâu dài. Cách làm là đem một con trâu làm bằng đất ra (thổ ngưu 土牛), người ta cầm một cây roi màu gọi là “thái trượng” 彩杖để xua nó đi. Hàm nghĩa là mọi người nên cần cù cày cấy (cũng có thuyết cho là dùng để đưa tiễn khí lạnh). Nếu Lập xuân gần ngày 15 tháng Chạp, người cầm cây roi đánh trâu sẽ ở phía trước trâu, biểu thị việc cày cấy năm đó phải sớm một chút. Nếu Lập xuân gần ngày 15 tháng Giêng năm sau, người cầm roi sẽ ở phía sau trâu, biểu thị việc cày cấy năm đó thích hợp muộn một chút. Còn nếu Lập xuân ở vào trước hoặc sau mồng 1 tháng Giêng, đương nhiên vị trí của người cầm roi phải ở giữa, thời gian cày cấy nông nghiệp đương nhiên cũng phải thích hợp ở giữa. Theo ghi chép, thời kì tiết Thanh minh, bên ngoài Đông Trực môn 东直门 của Bắc Kinh thiết lập “xuân trường” 春场, tại nơi đó đã chuẩn bị tơ lụa làm thành “Mang thần đình” 芒神亭 và “thổ ngưu đài” 土牛台. Trước Lập xuân một ngày, quan viên phụ trách kinh đô sẽ đưa quan viên lớn nhỏ đến xuân trường nghinh xuân. Các quan phải mặc quan phục màu đỏ, cài hoa trên đầu, dùng cờ xí nghi trượng mở đường. Cả đoạn đường có đội nhạc thổi kèn đánh trống. Đầu tiên đưa tượng Thần Câu Mang và thổ ngưu rước đến “thái bằng” 彩棚 (lều rạp được trang trí màu sắc) mà quan phủ đã chuẩn bị. Ngày hôm sau Lập xuân, các quan viên sai học trò hoặc sai dịch khiêng Mang thần đình và thổ ngưu đài đến hoàng cung chúc mừng hoàng thượng, hoàng hậu và hoàng thái tử. Trong quyển Tế Nam phủ chí 济南府志 biên soạn năm 1691 có nói:
          Trước ngày Lập xuân, quan phủ dẫn sĩ dân, chuẩn bị xuân ngưu, Mang thần, nghinh đón ở đông giao. Dọn “ngũ tân bàn” 五辛盘(2), tục gọi là “xuân bàn” 春盘, “ẩm xuân tửu” 饮春酒, “trâm xuân hoa” 簪春花.
          Dân làng, các hộ buôn bán diễn kịch ngư tiều canh độc .... Ngày Lập xuân, quan lại đều chuẩn bị roi màu, làm 3 con trâu đất, gọi đó là ‘tiên xuân’ hàm ý khuyến khích nông nghiệp.
          Không chỉ phủ quan như thế, từ tư liệu lịch sử, tập tục nghinh xuân của triều Tống, triều Minh và triều Thanh, hoạt động “tiên xuân” cực kì náo nhiệt. Kinh thành như thế, các nơi trong cả nước cũng như thế. Từ đó có thể thấy, trong xã hội nông nghiệp, bất luận là quan phương hay dân gian, bất luận là đại thần triều đình hay bách tính bình dân, đều tham gia hoạt động tiên xuân này, hi vọng mọi người cần cù, sớm thu hoạch được mùa màng.
          Hiện tại, tập tục này ở tuyệt đại bộ phận khu vực đã tuyệt tích, có một vài địa phương vào ngày mồng 3 tháng Giêng cử hành nghi thức, mang nông cụ, đánh trâu đến cánh đồng đầu thôn làm lễ cúng, biểu thị từ đó có thể xuống đồng canh tác.

Chú của người dịch
1- Theo Lễ kí dịch giải 禮記譯解 quyển thượng do Vương Văn Cẩm 王文錦  dịch giải,  câu này là:
          Lập xuân chi nhật, thiên tử thân suất tam công, cửu khanh, chư hầu, đại phu dĩ Nghinh xuân ư đông giao.
          立春之日, 天子親帥三公, 九卿, 諸侯, 大夫以迎春於東郊.
          (Bắc Kinh - Trung Hoa thư cục, 2007)
2- Ngũ tân bàn 五辛盘
          Ngũ tân bàn 五辛盘còn gọi là “tân bàn” 辛盘 “xuân bàn” 春盘, tức trong mâm có 5 món rau mang vị cay, dùng làm thức ăn nguội.
          Theo Phong thổ kí 风土记 đời Tấn có nói:
 Nguyên đán dọn ra ngũ tân bàn. Dùng ngũ tân để cho khí của 5 tạng phát ra. Ngũ tân tức hành, tỏi, hẹ, cải cay, rau thơm.
          Chữ “tân” 辛 (cay) hài âm với chữ “tân” 新 (mới), hàm ý của người xưa  cũng mong muốn sự việc được mới mẻ.
          Theo https://baike.baidu.com/item

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 04/02/2018
                                            Lập xuân 19 tháng Chạp năm Đinh Dậu

Nguồn http://www.24jq.net/lichun/jie1536/
 

Chia sẻ:
Ý kiến khách hàng