
Ở thiên mở đầu Khúc lễ 曲礼 trong Lễ kí 礼记có câu:
Anh vũ năng ngôn, bất li phi điểu; tinh tinh năng ngôn, bất li cầm thú. Kim nhân nhi vô lễ, tuy năng ngôn, bất diệc cầm thú chi tâm hồ?
鹦鹉能言, 不离飞鸟; 猩猩能言, 不离禽兽. 今人而无礼, 不亦禽兽之心乎?
(Vẹt có thể nói, nhưng rốt cuộc không thoát khỏi loài chim; tinh tinh có thể nói, những rốt cuộc không thoát khỏi loài thú. Nay con người nếu như không có lễ, cho dù có thể nói, nhưng tâm tính có khác gì loài cầm thú?)
Trong văn hoá Trung Quốc, lễ được xem là một tiêu chuẩn, phân biệt hữu hiệu giữa con người với cầm thú, thể hiện triệt để tính đặc biệt độc đáo giữa người với người, trở thành nền tảng của văn hoá Trung Quốc. Lễ nghi truyền thống là một loại phạm trù, bao gồm lễ kinh ghi chép về lễ nghi; nghi thức được xem là bộ phận chủ thể; lễ khí, lễ phục, lễ nhạc được xem là những công cụ phụ trợ trọng yếu. Sự cộng thông qua lại của đa chủng nguyên tố này, đã cấu thành văn hoá lễ nghi Trung Hoa phong phú rực rỡ.
Sau khi nhân loại tiến vào xã hội văn minh, việc đầu tiên kiến lập đó là chế độ đẳng cấp. Ở Trung Quốc, chế độ đẳng cấp lấy hình thức của lễ biểu hiện ra. Nhà Chu sau khi thay thế nhà Thương thống trị thiên hạ, lễ không ngừng được tinh tế hoá, đạt đến mức độ bị gọi là rườm rà phiền phức. Lễ nghi truyền thống phiền tạp, đại thể bao gồm lễ tế tự, lễ tang táng, lễ triều cận, lễ hội minh, lễ sính vấn, lễ xạ ngự, lễ tân khách, lễ hôn giá, lễ quan trâm ..., chức nghiệp nắm giữ và chủ trì các loại lễ này xưng là “nho” 儒. Điều này không khó để lí giải, vì sao Nho gia thường lấy lễ giáo làm gốc, còn Trung Quốc được xưng là “lễ nghĩa chi bang” 礼义之邦.
Lễ nghi Trung Hoa sớm nhất đều được ghi chép trong lễ kinh, chính là “lễ” trong Thi 诗, Thư 书, Lễ 礼, Nhạc 乐, Dịch 易, Xuân Thu 春秋. Lễ này bao gồm 3 quyển Chu lễ 周礼, Nghi lễ 仪礼 và Lễ kí 礼记.
Chu lễ 周礼
Chu lễ 周礼 còn được gọi là Chu quan 周官 hoặc Chu quan kinh 周官经, là văn hiến về hệ thống quan chế cổ xưa. Bộ sách này ghi chép hơn 360 chức quan, đảm nhậm mỗi chức quan có từ 1 người đến mấy chục người, cả vương triều quan viên tổng cộng có đến mấy vạn người. Chu lễ muộn nhất là đến tiền kì thời Tây Hán mới được xuất hiện, năm 155 trước công nguyên, có người họ Lí 李 dâng sách này lên Hà Gian Hiến Vương 河间献王. Sách ghi chép quan chế triều Chu cùng chế độ các quốc thời Chiến Quốc, có giá trị sử liệu rất cao. Nguyên sách có 6 thiên, nhưng họ Lí dâng lên chỉ có 5 thiên, lần lượt là Thiên quan Trủng tể 天官冢宰, Địa quan Tư đồ 地官司徒, Xuân quan Tông bá 春官宗伯, Hạ quan Tư mã 夏官司马, Thu quan Tư khấu 秋官司寇, thiếu thiên thứ 6. Để bổ sung được đầy đủ, Hiến Vương treo thưởng ngàn vàng, nhưng không có kết quả, cuối cùng lấy Khảo công kí 考工记 có nội dung tương tự bổ sung thành thiên Đông quan 冬官 thứ 6, dâng lên Hán Vũ Đế 汉武帝. Từ đó, sách luôn được tàng trữ nơi thâm cung bí phủ, người ta không thể biết, mãi đến những năm cuối triều Tây Hán, khi Lưu Hâm 刘歆 hiệu lí bí thư, thu nhập Thất lược 七略, sách mới được người ta biết một cách rộng rãi. Bản chú thích nổi tiếng nhất hiện tồn là do Hán nho Trịnh Huyền 郑玄chú, Giả Công Ngạn 贾公彦đời Đường viết lời sớ, đồng thời thu nhập vào Thập tam kinh chú sớ 十三经注疏.
Chu lễ là sách mà Chu Công 周公 có mục đích nhắm đến thái bình. Chu Công cho rằng, chỉ cần lễ nhạc chế tác hoàn bị thì thiên hạ có thể đại trị. Nhưng kì thực, Chu lễ chỉ bảo lưu nội dung bộ phận Chu Công chế lễ, vả lại chủ yếu thành vào hậu kì Chiến Quốc. Nội dung chủ thể của nó là những tưởng tượng suy nghĩ về việc kiến quốc thiết lập quan lại, không phải là những ghi chép chân thực. Chu lễ ghi chép, vị quan đệ nhất đẳng dưới thiên tử là Thiên quan 天官, chức vị tối cao xưng là Trủng tể 冢宰 hoặc Thái tể 大宰, chức này “Chưởng kiến bang chi lục điển, dĩ tá vương trị bang quốc” 掌建邦之六典, 以佐王治邦国 (chưởng quản việc kiến lập và ban hành sáu loại pháp điển của vương quốc, để phò tá Vương thống trị các quốc trong thiên hạ), tức hiệp trợ thiên tử, thống lĩnh lục quan (1), tổng lí chính vụ.
Thứ đến là Địa quan 地官, chức vị tối cao xưng là Tư đồ 司徒, chức này “Suất kì thuộc nhi chưởng bang giáo, dĩ tá vương an phủ bang quốc” 帅其属而掌邦教, 以佐王安抚邦国 (suất lãnh thuộc hạ, chưởng quản việc giáo dục trong thiên hạ, để phò tá Vương an định các quốc trong thiên hạ), tức chưởng quản việc giáo dục trong thiên hạ, giáo hoá muôn dân, để an bang định quốc.
Tiếp nữa là Xuân quan 春官, chức vị tối cao xưng là Đại tông bá 大宗伯, chức này “Suất kì thuộc nhi chưởng bang lễ, dĩ tá Vương hoà bang quốc” 帅其属而掌邦礼, 以佐王邦国 (suất lãnh thuộc hạ, chưởng quản việc lễ trong thiên hạ, để phò tá Vương làm cho các quốc trong thiên hạ hài hoà), tức chưởng quản lễ chế bang quốc, nghiêm minh đẳng cấp, điều hoà mối quan hệ các quốc.
Tiếp sau Xuân quan春官 là Hạ quan 夏官, chức vị tối cao xưng là Tư mã 司马, chức này “Suất kì thuộc nhi chưởng bang chính, dĩ tá Vương bình bang quốc” 帅其属而掌邦政, 以佐王平邦国 (suất lãnh thuộc hạ, chưởng quản chính điển trong thiên hạ, để phò tá Vương làm cho các quốc trong thiên hạ chính trị công bình), tức phò tá thiên tử bình định bang quốc, quản lí quân vụ, quyết định chinh phạt.
Tiếp sau Hạ quan夏官 là Thu quan 秋官, chức vị tối cao xưng là Tư khấu 司寇, chức này “Suất kì thuộc nhi chưởng bang cấm, dĩ tá Vương hình bang quốc” 帅其属而掌邦禁, 以佐王平邦国 (suất lãnh thuộc hạ, chưởng quản cấm lệnh trong thiên hạ, để phò tá Vương trừng phạt chư hầu quốc làm trái pháp luật), tức chủ quản sự vụ tư pháp về hình phạt ngục tụng của bang quốc, duy trì bảo vệ công bình chính nghĩa của xã hội.
Cuối cùng là Đông quan 冬官, chức vụ tối cao xưng là Tư không 司空, căn cứ vào Khảo công kí 考工记 bổ sung có thể biết, chức này chưởng quản bách công trong thiên hạ, quản lí sự phát triển kinh tế của quốc gia.
Thiên đầu tiên của các quan trong Chu lễ 周礼 đều nói rằng:
Duy vương kiến quốc, biện chính phương vị, thể quốc kinh dã, thiết quan phân chức, dĩ vi dân cực.
惟王建国, 辨正方位, 体国经野, 设官分职, 以为民极.
(Vương kiến lập quốc đô, phân biệt phương hướng, đồng thời xác định vị trí của tông miếu và triều đình, vạch giới hạn đô thành và ngoại ô, thiết lập quan viên phân định chức vị, để làm chuẩn tắc cho dân chúng)
Ý là thiên tử kiến lập đô thành, tất cần phải xác định phương vị, vạch rõ cương giới, thiết trí quan giai, khiến nhân dân lấy đó làm chuẩn mực. Ở đây ngụ ý một loại thể chế chính trị lấy Vương làm trung tâm, tức dân lấy quan làm trung tâm, các quan đều phân thuộc lục quan, lấy thiên tử làm trung tâm, từ trên xuống dưới kiến tạo cấu thành một hệ thống chính quyền lí tưởng, chuyên chế ổn định. Sự thực, trừ hệ thống quan chức ra, sách này còn đề cập đến thiên văn địa lí, thảo mộc ngư trùng, điển chương danh vật, sinh hoạt khởi cư, nông thương y bốc, phàm có quan hệ với việc bang quốc kiến chế, cơ hồ như không gì là không có, có thể nói là bác đại tinh thâm.... (còn tiếp)
Chú của người dịch
1- Lục quan 六官: Tức Thiên quan Trủng tể, Địa quan Tư đồ, Xuân quan Tông bá, Hạ quan Tư mã, Thu quan Tư khấu, Đông quan Tư không, cũng xưng là “lục khanh” 六卿.

Nghi lễ 仪礼
Nghi lễ仪礼, thời Tiên Tần gọi là “Lễ” 礼, thời Hán gọi là “Lễ” 礼hoặc “Sĩ lễ” 士礼. đại khái là vào khoảng đời Nguyên Đế 元帝triều Đông Tấn xuất hiện cách nói “Nghi lễ” 仪 礼. Sách này ghi chép lễ nghi cụ thể về cuộc sống thường ngày của quý tộc thời Tiên Tần, là bộ vựng biên lễ chế thời kì Xuân Thu Chiến Quốc của Trung Quốc, theo truyền thuyết là bộ sách Khổng Tử 孔子từng san định mà thành. Thời cổ có cách nói “Lễ nghi tam bách, uy nghi tam thiên” 礼仪三百, 威仪三千, nhưng do bởi chiến loạn và ngọn lửa đời Tần, đến đầu đời Hán chỉ còn lưu lại 17 thiên, mà chủ yếu là lễ của giai tầng sĩ, cho nên có cách nói “Sĩ lễ” 士礼. Nghi lễ 仪礼có tính thực dụng rất mạnh, có địa vị “ kinh” 经sớm nhất trong “Tam lễ” 礼. Thời Tây Hán, Hán Vũ Đế 汉武帝lập “Ngũ kinh bác sĩ” 五经博士, Nghi lễ 仪礼 là một trong số đó. Bản chú thích sớm nhất về sách này là Nghi lễ chú 仪礼注của Trịnh Huyền 郑玄thời Đông Hán, Giả Công Ngạn 贾公彦 thời Đường viết lời sớ, cuối cùng được thu nhập vào “Thập tam kinh chú sớ” 十三经注疏.
Nghi lễ 仪礼 có ảnh hưởng sâu rộng, bao gồm 8 phương diện lễ nghi cơ bản là tế 祭, tang 丧, quán 冠 (*), hôn 婚, xạ 射, hương 乡, triều 朝, sính, vừa liên quan đến lễ nghi qua lại giữa sĩ với nhau, đại phu với nhau, chư hầu với nhau, mà còn có lễ nghi qua lại giữa sĩ với đại phu, đại phu với chư hầu có đẳng cấp khác nhau, nhân đó những lễ chế quy định trong Nghi lễ 仪礼 vô cùng chi tiết. Trong đó, Sĩ quán lễ 士冠礼 chuyên luận về lễ nghi, sắp đặt, cùng trí từ lúc “gia quan” 加 冠 (đội mũ), thích dụng cho quý tộc bao gồm cả thiên tử trong đó.
Sĩ hôn lễ 士婚礼chuyên luận về lễ tiết lúc lấy vợ thành hôn.
Sĩ tương kiến lễ 士相见礼 chuyên luận về lễ nghi tương kiến giữa sĩ với quý tộc các cấp.
Hương xạ lễ 乡射礼 có 4 thiên, Hương ẩm tửu lễ 乡饮酒礼 chuyên luận về lễ tụ hội yến ẩm trước khi người làng tập xạ, Hương xạ lễ 乡射礼 chuyên luận về lễ giữa Châu trưởng với dân thần tập xạ vào hai mùa xuân thu; Yến lễ 燕礼 chuyên luận về lễ yến ẩm của chư hầu trước lúc tập xạ; Đại xạ nghi 大射仪chuyên luận về lễ giữa chư hầu với quần thần lúc tập xạ.
Lễ về triều sính có 3 thiên, Sính lễ 聘礼 là lễ nghi bang giáo của chư hầu quốc; Công thực đại phu lễ 公食大夫礼 là lễ chư hầu thết đãi đại phu; Cận lễ 觐礼 là lễ chư hầu triều cận thiên tử.
Tang lễ có 4 thiên, Tang phục 丧服, Sĩ tang lễ 士丧礼, Kí tịch lễ 既夕礼, Sĩ ngu lễ 士虞礼 (sẽ trình bày ở các tiết về tang lễ).
Tế lễ có 3 thiên, Đặc sinh quỹ thực lễ 特牲馈食礼chuyên luận về lễ kẻ sĩ hàng năm tế Tổ Nễ 祖祢 (1); Thiếu lao quỹ thực lễ 少牢馈食礼, chuyên luận về lễ Khanh đại phu tế Tổ Nễ; Hữu tư triệt 有司彻 chuyên luận về lễ giữa Thượng đại phu tấn thi 傧尸 (2) với Hạ đại phu không tấn thi.
Nhiều lễ nghi quý tộc của đời sau đều bắt nguồn từ đây, đồng thời ảnh hưởng đến văn hoá lễ tục của Nhật Bản và Triều Tiên.
Lễ nghi quý tộc mà Nghi lễ 仪礼 quy định tuy phản ánh xã hội có đẳng cấp, nhưng hàm ý giáo hoá trong đó vẫn có tính thông thường. Ví dụ như trong Kí 记 sau thiên Sĩ quán lễ 士冠礼 có nói: Đích tử tại tông miếu tộ giai 阼阶 (3), tiến lên hành quán lễ 冠礼, chứng tỏ con đã trưởng thành, sẽ là người kế thừa của phụ thân, lễ gia quan cần phải 3 lần, lần lượt là bố quan 布冠, bì quan 皮冠, tước quan 爵冠, lần sau tôn quý hơn lần trước, ý nghĩa là trưởng niên đối với người đời sau có kì vọng về đức tính và công nghiệp, kì vọng đời sau có thể xứng đáng với chiếc mũ lần mà sau tôn quý hơn lần trước. Cho nên “Quán lễ” 冠礼 không chỉ là hình thức, mà còn là thông qua hành vi nghi thức kí thác tốt đẹp đối với lí tưởng thành nhân. Những lễ nghi khác cũng đều bao hàm ý nghĩa luân lí thông thường, không thể đơn giản xem là hình thức vật chất. ... (còn tiếp)
Chú của nguyên tác
1- Nễ 祢: Xưng vị đối với phụ thân đã mất, bài vị được đưa vào thờ trong tông miếu vào thời cổ.
2- Tấn thi 傧尸: Thi 尸 là người sống đóng vai người mất nhận tế lễ. Tấn thi 傧尸tức thi dẫn đường.
3- Tộ giai 阼阶 tức đông giai 冬阶, là vị trí chủ nhân.
Chú của người dịch
*- Về chữ 冠: Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu chữ 冠có 2 âm:
- Quan: Cái mũ.
- Quán: Lễ đội mũ.
(Hà Nội: nxb Hồng Đức, 20015)
Trong Khang Hi tự điển 康熙字典 có ghi:
- 冠 bính âm guān. Đường vận 唐韻, Tập vận 集韻, Vận hội 韻會phiên thiết là 古 (cổ)完 (hoàn); Chính vận 正韻phiên thiết là 沽 (cô) 歡 (hoan), đều có âm là 官(quan).
- 冠 bính âm guàn: Đường vận 唐韻, Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻đều phiên thiết là 古 (cổ) 玩 (ngoạn), 官 (quan) khứ thanh, tức “quán”.
(Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
Nếu chữ 冠 đọc là “quan” với bính âm guān có nghĩa là “cái mũ” (danh từ).
Nếu chữ 冠 đọc là “quán” với bính âm guàn có nghĩa là “lễ đội mũ” (động từ).
Với từ冠禮, các tư liệu như:
http://cidian.118cha.com/1439340.html
https://zhidao.baidu.com/question/1499343886932469659.html
đều bính âm là guàn lǐ.
Như vậy chữ 冠 ở đây đọc là “quán” với nghĩa là “lễ đội mũ”, tức “quán lễ” 冠禮.

Lễ kí 礼记
Lễ kí礼记là tập luận văn lễ học luận của Nho gia, là bộ sách có địa vị cao nhất, lưu truyền rộng nhất trong Tam lễ. Trứ tác thuộc về loại lí học của lễ nghi, nhân đó vào thời kì đầu nó thuộc về sách tham khảo của bộ Nghi lễ 仪礼, cho nên xưng là “kí” 记. Biên độ ngang dọc về thời gian thành sách tương đối lớn, thời gian hoàn thành các thiên khác nhau, trên từ Chiến Quốc, dưới đến đầu thời Hán. Tương truyền Hà Gian Hiến Vương 河间献王 sưu tập 131 thiên trứ tác tương quan, ngoài ra, vãn kì thời Tây Hán, Lưu Hướng 刘向 lại thu thập những sách tương tự, tổng cộng 214 thiên. Nho gia Đái Đức 戴德 thời Tây Hán đem biên tập thành 85 thiên, xưng là Đại Đái lễ kí 大戴礼记. Người cháu là Đái Thánh 戴圣đã bỏ chỗ rườm rà lấy chỗ tinh giản, biên thành 46 thiên, gọi là Tiểu Đái lễ kí 小戴礼记. Về sau, Nho gia Mã Dung 马融 thời Đông Hán lại bổ sung 3 thiên, tổng cộng thành 49 thiên, thành bộ Lễ kí 礼记 mà ngày nay chúng ta thấy. Lại do bởi được đại Nho Trịnh Huyền 郑玄 thời Đông Hán chú thích xuất sắc mà càng thêm nổi danh, địa vị của Lễ kí 礼记 từ là sách tham khảo cho bộ Nghi lễ 仪礼 đã một bước nhảy lên thành sách giáo khoa. Đời Đường, chính phủ đem nó với Chu lễ 周礼, Nghi lễ 仪礼cùng xếp vào loại kinh. Còn Đại Đái lễ kí大戴礼记 trong sự cạnh tranh với Tiểu Đái lễ kí小戴礼记 đã u ám thất sắc, mất hơn một nửa, đến nay chỉ bảo lưu 39 thiên.
Nội dung của Lễ kí 礼记vô cùng rộng lớn, nhưng chủ yếu không phải là lưu trình nghi thức hoàn chỉnh, mà đa phần là lể tiết tiểu tiết, chế độ quy chương chi tiết, cùng với lí tưởng chính trị của Nho gia, đã bổ sung nhiều nội dung mà Nghi lễ 仪礼 chưa ghi chép. Thiên đầu tiên của Lễ kí 礼记 là Khúc lễ 曲礼, tức lễ tiết tiểu tiết, hàm chứa mọi phương diện của cuộc sống xã hội thường ngày. Bao gồm lễ tiết phải tuân thủ mà quân thần thường ngày vấn đáp, lễ tiết khi thần tử tiến hiến vật phẩm lên quốc quân, lễ tiết tiếp nhận thức ăn và lễ vật mà quốc quân ban tặng; lễ tiết giao tiếp qua lại những những người có tuối tác khác nhau; lễ tiết qua lại giữa thầy và trò; phương thức xưng danh qua lại giữa những người có địa vị xã hội khác nhau; danh xưng đối với thân phận khác nhau của người đã mất, cùng với các loại cấm kị trong quá trình săn bắn, tế tự, tang táng, nhiều không kể xiết.
Thứ đến là thiên Đàn Cung 檀弓, chủ yếu thảo luận về lễ tang táng. Đàn Cung, họ Đàn 檀 tên Cung 弓, người nước Lỗ, tinh thông lễ nghĩa. Thiên này do Đàn Cung khi điếu tang, chất nghi Công Nghi Trọng Tử 公仪仲子 lập con thứ làm người kế thừa mà không lập đích tôn, ghi chép lại những quy phạm lễ tiết về thời gian phục tang; ngôn ngữ, cử chỉ, ẩm thực khởi cư, búi tóc, phục sức mà người phục tang cần phải tuân thủ, cùng với những quy định về cách bài trí khí vật tang táng và đồ trang sức. Tương quan còn có Bôn tang 奔丧, Vấn tang 问丧, Tam niên vấn 三年问, Tang phục tiểu kí 丧服小记, Tang phục tứ chế 丧服四制, đều là những bổ sung tiểu tiết đối với Sĩ tang lễ, và bổ sung ý nghĩa đối với lễ nghi tang táng.
Ngoài ra, thiên Vương chế 王制thuật lại chế độ quy chương của quân chủ thời cổ trị lí thiên hạ, liên quan đến chế độ các phương diện như phong quốc, chức quan, tước lộc, tế tự, tang táng, hình phạt, tuyển quan, giáo dục, thậm chí cả dưỡng lão. Thiên Nội tắc 内则ghi chép những quy tắc gia đình của sĩ đại phu cùng chế độ kính lão. Thiên Nguyyệt lệnh 月令 thuật rõ chế độ phối hợp về thời lệnh, tinh tú, nông sự, tế tự. Thiên Thiếu nghi 少仪 thì tạp ghi các loại tương quan “tế tiểu uy nghi” 细小威仪, như tương kiến, tế tự, sự phụng trưởng quan v.v... Thiên Đầu hồ 投壶 (1) giới thiệu lễ nghi xã giao của quý tộc cổ đại lúc đầu hồ. Các thiên Quán nghĩa 冠义, Hôn nghĩa 昏义, Hương ẩm tửu nghĩa 乡饮酒义, Xạ nghĩa 射义, Yến nghĩa 燕义, Sính nghĩa 聘义, đều là bổ sung những chỗ chưa đủ của quyển Nghi lễ 仪礼, có giá trị sử liệu độc đáo và ý nghĩa sâu xa về triết học. Do bởi độ dài ngắn của Lễ kí 礼记 rất lớn, nội dung phức tạp, có thể nói mặt nào cũng có, rất nhiều loại.
Trong đó, thiên mục nổi tiếng nhất, chẳng thiên nào qua được thiên Đại học 大学 và thiên Trung dung 中庸 được Chu Hi 朱熹tuyển chọn đưa vào trong Tứ thư 四书. Gọi là “Đại học”, tức học vấn tối đại, chí cao vô thượng. Theo cách nhìn của Nho gia, học vấn tối đại chẳng gì qua được về đạo đức có thể đạt đến sự hoàn mĩ, về công nghiệp có thể bình định thiên hạ, đó gọi là “Nội thánh ngoại vương” 内圣外王. Lộ trình thực hiện lí niệm tối cao của nó được gọi là “tam cương lĩnh” 三纲领, tức minh minh đức 明明德, thân dân 亲民, chỉ vu chí thiện 止于至善; “bát điều mục” 八条目, tức cách vật 格物, trí tri 致知, thành ý 诚意, chính tâm 正心, tu thân 修身, tề gia 齐家, trị quốc 治国, bình thiên hạ 平天下. Đại học còn đem tam cương lĩnh và bát điều mục tiến hành tổng quát, “Tự thiên tử dĩ chí vu thứ nhân, nhất giai dĩ tu thân vi bản” 自天子以至于庶人, 一皆以修身为本 (2) (Từ thiên tử cho đến thứ nhân, ai cũng đều lấy tu thân làm gốc). Đó chính là cường điệu trong xã hội và trong chính trị, đạo đức có tính tuyệt đối.
Trung dung 中庸 lần đầu tiên đề xuất khái niệm thiên mệnh nhân tính, mở đầu thiên nói rằng:
Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo vị chi giáo.
天命之谓性, 率性之谓道, 修道之谓教
Ý nghĩa câu đó là nhân tính có nguồn gốc từ thiên mệnh, học theo tính mà làm thì có thể phù hợp với thiên đạo, tuân theo tính mà làm là việc cần phải tu tập, đó chính là giáo hoá. Giáo hoá mà Trung dung nói tới chính là lễ nhạc giáo hoá. Thông qua lễ nhạc giáo hoá, người ta sẽ biết thường ngày làm việc như thế nào để không thiên lệch, xử lí tốt các mối quan hệ của con người. Cho nên hậu thế gọi sách Trung dung中庸 là tâm pháp của Nho gia, chính là đạo lí này. Khổng Tử 孔子 từng cảm thán rằng:
Trung dung chi vi đức dã, kì chí hĩ hồ, dân tiên cửu hĩ.
中庸之为德也,其至矣乎,民鲜久矣
(“Trung dung” là một loại đạo đức, nó là tối cao! Nhưng mà người ta từ rất lâu đã thiếu loại đạo đức này)
(Luận ngữ - Ung dã 论语 - 雍也)
Chính do vì Khổng Tử cảm thán trung dung là khó có được, nên càng khiến trung dung trở thành nguyên tắc luân lí mà Nho gia cực tôn sùng.
Sự thực, tình hình các đời các triều có khác nhau, trước giờ không tồn tại tình hình dựa theo lễ kinh để chế tác lễ nghi một cách nghiêm túc. Trong Nhị thập tứ sử, mỗi sử thư đều có Lễ thư 礼书, Lễ chí 礼志, Lễ nhạc chí 礼乐志 ... , như Khổng Tử có nói:
Ân Thương kế thừa lễ nhạc của nhà Hạ, nhưng có chỗ tăng giảm; nhà Chu kế thừa được lễ nhạc của Ân Thương, nhưng cũng có chỗ tăng giảm. Tương lai cũng sẽ như thế.
Cho nên hoàn toàn không tồn tại lễ mà về hình thức vật chất nguyên viễn lưu trường, huống hồ Chu lễ 周礼vốn là mô thức chính trị lí tưởng, không có tính hiện thực, mà tính thực dụng của Nghi lễ 仪礼cũng dần bị tiêu ma trong sự phát triển của lịch sử. Lễ kí 礼记thì không như thế, thiên mở đầu nói rằng:
Vô bất kính, nghiễm nhược tư, an định từ, an dân tai.
毋不敬, 俨若思, 安定辞, 安民哉.
(Chớ có mà không kính trọng, nghi dung nên đoan chính như có điều lo nghĩ, ngôn từ phải khoan thai xác định, có như thế mới có thể khiến dân tâm ổn định.)
Là nguyên tắc có giá trị được rút ra từ trong chế độ lễ nghi cụ thể ở Chu lễ 周礼và Nghi lễ 仪礼, nó mang tính phổ biến, tính phổ thông, đương nhiên cũng có thể vượt qua thời đại, càng được nhiều người tiếp nhận. (hết)
Chú của người dịch
1- Đầu hồ 投壺: Là một môn vui chơi giải trí kèm theo trong lúc yến tiệc mang tính lễ tiết ở thời cổ. Đặt một chiếc bình (hồ 壺), chủ và khách tại một khoảng cách nhất định thay phiên nhau ném tên (thỉ 矢), người nào ném tên vào bình được nhiều là người thắng, người thua bị phạt uống mấy li rượu theo quy định.
(Theo Lễ kí dịch giải 禮記譯解 của Vương Văn Cẩm 王文錦, Trung Hoa thư cục xuất bản năm 2007)
2- Ở câu này, trong nguyên tác không có chữ 是 (thị). Theo Tứ thư 四書 (ngôn văn đối chiếu) của Quảng Trí thư cục 廣智書局, 1964? và Lễ kí dịch giải 禮記譯解 của Vương Văn Cẩm 王文錦, Trung Hoa thư cục xuất bản năm 2007, đều có chữ是 (thị).
Tự thiên tử dĩ chí vu thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản
自天子以至于庶人, 壹是皆以修身为本
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 22/3/2021
Nguyên tác
LỄ KINH
礼经
Biên soạn: Chu Uân 周贇
Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 20019