Theo truyền thống Trung Quốc, Xuân tiết 春节 nhìn chung chỉ Trừ tịch 除夕đến rằm. Thế thì Xuân tiết đại niên từ mùng 1 đến rằm có những tập tục nào? Xuân tiết về ý nghĩa truyền thống chỉ tế Lạp từ mùng 8 tháng Chạp hoặc tế Táo ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp, kéo dài đến rằm tháng Giêng, trong đó lấy Trừ tịch và mùng 1 tháng Giêng là cao trào. Thời gian Xuân tiết, Hán tộc và các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc đều tổ chức những hoạt động chúc mừng. Những hoạt động này đều lấy tế thần tiên, tế tổ tiên, trừ cũ đón mới, nghinh đón phúc, cầu được một năm đầy đủ là nội dung chủ yếu. Hoạt động phong phú nhiều màu sắc, mang đậm nét đặc sắc dân tộc.
Mùng 1 tháng Giêng
Mùng 1 tháng Giêng không được quét dọn, nếu quét, sẽ quét đi vận khí, phá tài. Giả sử nếu không quét không được, thì cần phải từ bên ngoài quét vào. Đến nay nhiều nơi vẫn còn bảo tồn tập tục này, trước Trừ tịch quét dọn sạch sẽ, mùng 1 không được quét, không được đổ rác, chuẩn bị một thùng lớn để đựng nước thải, hôm đó cũng không được hắt nước ra ngoài đường. Năm mới cũng không được làm vỡ đồ đạc, làm vỡ là điềm báo phá sản, nếu bị vỡ phải nhanh chóng nói “tuế tuế bình an” 岁岁平安 (chữ “toái” 碎 là vỡ vụn đồng âm với chữ tuế 岁) hoặc “lạc địa khai hoa, phú quý vinh hoa” 落地开花富贵荣华.
Xuân tiết tục gọi là “Quá niên” 过年, nguyên danh là “Nguyên đán” 元旦, Đỗ Đài Khanh 杜台卿 đời Tuỳ trong Ngũ chúc bảo điển 五烛宝典 có nói:
Chính nguyệt vi Đoan nguyệt, kì nhất nhật vi Nguyên nhật, diệc vân Chính triêu.
正月为端月, 其一日为元日,亦云正朝
(Chính nguyệt là Đoan nguyệt, ngày mùng 1 là Nguyên nhật, cũng gọi là Chính triêu.)
“Nguyên” 元bản ý là “đầu” 头, sau dẫn đến nghĩa “khai thuỷ” 开始 (mở đầu), nhân vì ngày đó là ngày đầu tiên của năm, ngày đầu tiên của mùa xuân, ngày đầu tiên của tháng Giêng, cho nên gọi là “Tam nguyên” 三元; nhân vì ngày đó còn là sáng sớm của tuế, sáng sớm của nguyệt, sáng sớm của nhật, cho nên gọi là “Tam triêu” 三朝; lại nhân vì là sóc nhật đầu tiên, nên cũng gọi là “Nguyên sóc” 元朔. Mùng 1 tháng Giêng còn có biệt xưng là Thượng nhật 上日, Chính triêu 正朝, Tam sóc 三朔, Tam thuỷ 三始 ... ý nghĩa là mùng 1 tháng Giêng là mở đầu của năm, tháng, ngày.
Mùng 1 tháng Giêng rất chú ý đến việc mở cửa đốt pháo. Sáng sớm Xuân tiết, để mở cửa được đại cát, trước tiên phải đốt pháo, gọi là “Khai môn pháo trượng” 开门炮仗. Sau tiếng pháo là thấy xác pháo đỏ cả mặt đất nhìn đẹp như gấm thêu, gọi là “Mãn đường hồng” 满堂红. Lúc bấy giờ khí lành khắp phố, hỉ sự tràn trề. Ngày đầu tiên mùng 1, đến nhà bà con bạn bè chúc tết hoặc gọi điện hỏi thăm là không thể thiếu. Mở miệng nói câu “Quá niên hảo” 过年好 (ăn tết vui vẻ), chúc phúc mỗi người cả một năm đại cát đại lợi.
Mùng 2 tháng Giêng
Ngày mùng 2, con gái đã xuất giá về lại nhà cha mẹ, có chàng rể đi cùng, cho nên tục gọi là “Nghinh tế nhật” 迎婿日. Ngày này, con gái về nhà cha mẹ cần phải mang theo một ít quà và bao lì xì, chia cho trẻ con nhà cha mẹ, đồng thời dùng cơm trưa tại đó, nhưng phải về lại nhà cha mẹ chồng trước bữa cơm tối. Trước đây, người nhà cũng chọn ngày này để chụp chung tấm ảnh “toàn gia phúc” 全家福.
Mùng 3 tháng Giêng
Ngày mùng 3 tháng Giêng còn gọi là “Xích cẩu nhật” 赤狗日, đồng âm với “xích khẩu” 赤口, thông thường vào ngày này không ra ngoài đi chúc tết, theo truyền thuyết, vào ngày này rất dễ phát sinh tranh chấp cãi cọ với người khác. Nhưng tập tục này sớm đã qua đi, nhân vì người thời hiện tại khó mà đoàn tụ vào lúc Xuân tiết, nên tập tục đó đã nhạt hoá đi nhiều.
Mùng 4 tháng Giêng
Ngày mùng 4 tháng Giêng là ngày tế Tài Thần. Trước đây, ông chủ muốn “sao vưu ngư” 炒鱿鱼 (cho nghỉ việc) một người nào đó, ngày đó sẽ không mời đến bái Thần, qua đó đối phương trong bụng đã biết, tự thu xếp từ biệt. Còn có một truyền thuyết khác, ngày đó Táo Vương Gia yêu cầu kiểm tra hộ khẩu, nên không được ra khỏi nhà.
Mùng 5 tháng Giêng
Ngày mùng 5 tháng Giêng tục xưng là “phá ngũ” 破五, cần “cản ngũ cùng” 赶五穷 (đuổi đi 5 cái cùng), gồm “trí cùng 智穷, học cùng 学穷, văn cùng 文穷, mệnh cùng 命穷, giao cùng 交穷”. Từ tờ mờ sáng mọi người đã thức dậy, đốt pháo, quét dọn, pháo từ trong nhà ném ra ngoài, vừa ném vừa chạy ra. Theo truyền thuyết, là đem tất cả những gì không tốt đuổi đi. Ngày đó, thực tục trong dân gian là ăn sủi cảo, tục gọi là “niết tiểu nhân chuỷ” 捏小人嘴 (1), người Thiên Tân 天津 vào ngày phá ngũ, nhà nhà đều ăn sủi cảo, lại còn cần phải băm băm cái thớt cho phát ra tiếng kêu để hàng xóm nghe thấy, thể hiện ý đang băm “tiểu nhân”...
Chú của người dịch
1- Niết tiểu nhân chuỷ 捏小人嘴: Ngày mùng 5 tháng Giêng, nhiều nơi ở Trung Quốc có tập tục ăn sủi cảo. Ở một số địa phương, lúc bao sủi cảo gọi là “niết tiểu nhân chuỷ”. Bởi khi bao sủi cảo, phải dùng tay nắn từng tí từng tí phần biên của bánh, nắn càng chặt càng tốt, người ta nói là “nắn miệng tiểu nhân”. Theo truyền thuyết làm như thế có thể tránh sàm ngôn.
Mùng 6 tháng Giêng
Ngày mùng 6 tháng Giêng, thương điếm tửu lâu mới chính thức khai trương buôn bán, lại còn đốt pháo không thua gì lúc Trừ tịch. Truyền thuyết cho rằng, vào ngày này, được hoan nghinh nhất là các em trai tròn 12 tuổi, bởi 12 là gấp đôi của 6, gọi là “lục lục đại thuận” 六六大顺. Hôm đó, mỗi nhà mỗi hộ đều đem rác mà đã tích tụ trong những ngày tết đổ đi, gọi là “tống cùng quỷ” 送穷鬼.
Mùng 7 tháng Giêng
Ngày mùng 7 tháng Giêng là ngày “nhân” 人, tức sinh nhật của con người . Theo ghi chép trong Chiêm thư 占书, bắt đầu từ mùng 1, trời sáng tạo ra thứ tự của vạn vật là “Mùng 1 gà, mùng 2 chó, mùng 3 heo, mùng 4 dê, mùng 5 trâu, mùng 6 ngựa, mùng 7 con người, mùng 8 lúa”, cho nên mùng 7 là “nhân nhật” 人日. Vào ngày này, thị dân Hương Cảng thích ăn “cập đệ chúc” 及第粥 (cháo thi đậu, gọi là “cập đệ” 及第 là hi vọng thi đậu Trạng nguyên. “Nhân nhật” nên tôn kính mỗi cá nhân, ngay cả phủ quan cũng không thể xử tội phạm vào ngày này, gia trưởng cũng không thể “giáo huấn” con cái vào ngày này.
Mùng 8 tháng Giêng
Ngày mùng 8 là “cốc nhật” 谷日, theo truyền thuyết là sinh nhật của lúa, cũng gọi là “Thuận tinh tiết” 顺星节, theo lời kể là ngày các vì sao xuống trần, tinh đẩu trên bầu trời hiện ra đủ, nếu như thiên khí hôm đó trong sáng, đó là dự báo một năm đạo cốc phong thu, nếu âm u là sẽ mất mùa.
Mùng 9 tháng Giêng
Ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch, theo tập tục dân gian là ngày sinh của Ngọc Hoàng Đại Đế, cần phải cử hành hoạt động tế Thiên long trọng. Tín chúng cần phải chủ tự Ngọc Hoàng Đại Đế, chúc thọ Thiên Công, đồng thời cầu mong một năm mới mưa thuận gió hoà, bình an mạnh khoẻ.
Mùng 10 tháng Giêng
Ngày mùng 10 tháng Giêng là sinh nhật “thạch đầu” 石头 (đá), vào ngày này phàm những công cụ bằng đá dùng để mài, nghiền đều không được sử dụng, thậm chí còn phải tế tự đá. Tại vùng Vận Thành 郓城 Sơn Đông 山东 có cách nói “đài thạch đầu thần” 抬石头神 (khiêng Thần đá). Đêm mùng 9, người ta đem một chậu sành đặt cho nó kết dính trên một tảng đá bằng phẳng trơn láng, sáng sớm mùng 10 lấy dây thừng buộc vào rồi do 10 thanh niên thay nhau khiêng đi, nếu tảng đá không rơi xuông đất thì dự báo năm đó được mùa.
Ngày 11 tháng Giêng
Ngày 11 tháng Giêng là “Tử tế nhật” 子婿日, là ngày mà nhạc phụ mở tiệc mời chàng rể. Ngày mùng 9 khánh chúc “Thiên công sinh nhật” 天公生日, những thức ăn còn lại, trừ ăn vào ngày mùng 10, số còn dư lại rất nhiều, cho nên nhà gái không để lãng phí, liền dùng những món ngon dư đó chiêu đãi chàng rể và con gái, dân ca gọi là “Thập nhất thỉnh Tử tế” 十一请子婿.
Ngày 12 đến ngày rằm tháng Giêng
Qua ngày 11 tháng Giêng, người ta bắt đầu chuẩn bị khánh chúc Nguyên tiêu giai tiết. Bắt đầu từ ngày 12 tháng Giêng chọn mua lồng đèn, dựng rạp. Đồng dao có câu:
Thập nhất nhượng tra tra, thập nhị đáp đăng bằng, thập tam nhân khai đăng, thập tứ đăng chính minh, thập ngũ hành nguyệt bán, thập lục nhân hoàn đăng.
十一嚷喳喳, 十二搭灯棚, 十三人开灯, 十四灯正明, 十五行月半, 十六人完灯
(Ngày 11 gọi nhau ầm ĩ, ngày 12 dựng rạp đèn, ngày 13 bắt đầu mở hội hoa đăng, ngày 14 đèn các nơi rực sáng, ngày 15 đi chơi đêm rằm, ngày 16 là “hoàn đăng”)
Rằm tháng Giêng chính là Nguyên Tiêu tiết 元宵节, là đêm trăng tròn đầu tiên của năm, cũng là đêm mà đại địa hồi xuân.
Rằm tháng Giêng Nguyên Tiêu tiết元宵节, cũng là Thánh đản của Thượng Nguyên Thiên Quan Đại Đế ở Đạo giáo, là lúc Thiên quan 天官 tứ phúc, cũng gọi là Thượng Nguyên tiết 上元节.
Phong tục Nguyên Tiêu thắp đèn bắt đầu từ triều Hán, vào ngày này không thể thiếu ăn Nguyên tiêu, chè ỷ. Đêm ngày 16 tháng Giêng là ngày tết của trẻ em, trẻ em xách lồng đèn của mình, va mạnh và lồng đèn của đối phương, sau đó cười vang, xem thử lồng đèn của đối phương có bị bốc cháy không, tục đó gọi là “bính đăng” 碰灯. Nhằm ý là, lồng đèn của năm nay, không được giữ lại đến năm sau, cần phải dùng cách “bính đăng” để tiêu huỷ... (hết)
Chú của người dịch
1- Hoàn đằng 完灯: Sau khi con gái lấy chồng sinh con, nhà ngoại liền chuyển tặng lễ vật cho cháu một chiếc đèn lồng và 10 cây đèn nến. Từ ngày 11 đến rằm tháng Giêng, cháu sẽ chơi rước đèn. Lồng đèn mà tặng cho trẻ con phải nhỏ hơn lồng đèn đã tặng cho con gái trước đó để trẻ con dễ mang theo bên người, nhìn chung còn phải tặng bánh, biểu thị lời cầu chúc đối với trẻ. Cứ như vây đến khi trẻ được 12 tuổi, nhà ngoại sẽ “tống đăng” 送灯 (tặng lồng đèn) cho trẻ lần cuối cùng, tức “hoàn đăng” 完灯, cũng là lần tặng long trọng nhất. Từ đó sẽ ngừng việc tặng lồng đèn và bánh như theo lệ hằng năm trước đó, điều này đánh dấu trẻ từ đồng niên bước vào giai đoạn thiếu niên. Tống đăng, ngoạn đăng đến đây là chấm dứt, cho nên gọi là “hoàn đăng”.
Huỳnh Chương Hưng ( việt dịch)
Quy Nhơn 11/02/2021
(Ngày 30 tháng Chạp năm Canh Tí)
Nguồn
http://www.jxhzw.org/fsrl/1029.html