Thanh minh 清明 là một trong 24 tiết khí lại là một tiết trong tháng 3, ở vào khoảng trước và sau ngày 5 tháng 4 dương lịch. Ghi chép sớm nhất về Thanh minh được thấy ở Hoài Nam Tử - Thiên văn huấn 淮南子 - 天文训:
Xuân phân hậu thập ngũ nhật, đẩu chỉ ất, vi Thanh minh 春分后十五日, 斗指乙, 为清明
(Sau Xuân phân 15 ngày, Bắc đẩu chỉ hướng thiên can Ất, hôm đó là Thanh minh)

Trong Tuế thời bách vấn 岁时百问 ghi rằng:
Vạn vật sinh trưởng thử thời, giai thanh khiết nhi minh tịnh.
万物生长此时,皆清洁而明净
(Muôn vật sinh trưởng lúc đó, đều thanh khiết và sáng trong)
Thời cổ, hai tiết Hàn thực 寒食 và Thanh minh清明 tiếp liền nhau, hoạt động của Hàn thực thường kéo dài đến Thanh minh, lâu dần, hai tiết này không có sự phân biệt rõ. Phú Sát Đôn Sùng 富察敦崇 đời Thanh trong Yên Kinh tuế thời kí 燕京岁时记 ghi rằng:
Thanh minh tức Hàn thực, hựu viết Cấm yên tiết. Cổ nhân tối trọng chi, kim nhân bất vi tiết, đản nhi đồng đới liễu, tế tảo phần oanh nhi dĩ.
清明即寒食, 又曰禁烟节. 古人最重之, 今人不为节. 但儿童戴柳, 祭扫坟茔而已.
(Thanh minh tức Hàn thực, còn gọi là “Cấm yên tiết”. Người xưa rất coi trọng tiết này, người thời nay không xem là tiết, nhưng còn tập tục trẻ em đội cành liễu, cúng tế và tảo mộ)
Vào tiết Thanh minh, người xưa có các tập tục như tế tảo phần mộ, đạp thanh du xuân, đội cành liễu, cắm cành liễu, còn triển khai các hoạt động như thả diều, chơi cầu, đánh đu. Nơi cung đình vào tiết Thanh minh, triều đình ban cho cận thần “tân hoả” 新火 (lửa mới) (Hàn thực cấm lửa 3 ngày, đến tiết Thanh minh nhóm lửa mới lại, nên gọi là “tân hoả”) để thể hiện sự vinh sủng. …..
Tảo mộ 扫墓còn gọi là “mộ tế” 墓祭, “thướng phần” 上坟, phong tục này bắt nguồn từ đời Tần, nhưng lúc bấy giờ không nhất định phải tiến hành vào tiết Thanh minh. Tiết Thanh minh tảo mộ mãi đến thời Tuỳ Đường mới bắt đầu thịnh hành. Ngô Tự Mục 吴自牧 đời Tống trong Mộng lương lục 梦梁录 nói rằng: hàng năm vào ngày này,
Quan viên sĩ thứ, câu xuất giao tỉnh phần, dĩ tận tư thời chi kính
官员士庶, 俱出郊省坟, 以尽思时之敬.
(Quan viên sĩ thứ đều ra ngoại thành thăm viếng mộ phần, để bày tỏ hết lòng kính trọng khi tưởng nhớ đến người đã mất)
Khi tảo mộ, theo lệ phải bày ra trước mộ lễ vật và món ăn, gọi là “án thái” 案菜. Nghi thức hành lễ có đọc văn tế, lần lượt quỳ lạy, nam trước nữ sau, thiêu đốt giấy tiền và văn tế.
Vùng Giang Nam còn lưu hành tập tục đem những xâu tiền giấy treo ở đầu mộ, gọi là “quải mộ” 挂墓. Tế tự hoàn tất, người tế chính mời những người trong tộc đi tảo mộ dùng qua rượu và món ăn đã tế, gọi là “tản tộ” 散胙…..
Đạp thanh 踏青 còn gọi là “xuân du” 春游, thời cổ gọi là “thám xuân” 探春, “tầm xuân” 寻春. Theo ghi chép trong Cựu Đường thư 旧唐书:
Đại Lịch nhị niên nhị nguyệt Nhâm Ngọ, hạnh Côn Minh trì đạp thanh
大历二年二月壬午, 幸昆明池踏青
(Ngày Nhâm Ngọ tháng 2 năm Đại Lịch thứ 2, vua đến Côn Minh trì đạp thanh)
Có thể thấy, tập tục này đã lưu hành từ rất lâu. Đỗ Phủ 杜甫 có câu:
Giang biên đạp thanh bãi
Hồi đầu kiến tinh kì
江边踏青罢
回头见旌旗
Bên sông vui hội đạp thanh xong
Quay đầu lại nhìn thấy đầy cờ xí
Đời Tống phong tục đạp thanh càng thịnh. Tranh phong tục “Thanh minh thượng hà đồ” 清明上河图của Trương Trạch Đoan 张择端 thời Tống đã miêu hoạ cảnh tượng náo nhiệt vào tiết Thanh minh lấy Biện Kinh 汴京 làm trung tâm. ….. Trong tiểu thuyết cổ điển, không ít câu chuyện tình ái của những đôi nam nữ thanh niên đều phát sinh trong lúc du xuân Thanh minh. Câu chuyện kết giao giữa Bạch Xà 白蛇và Hứa Tuyên 许宣 tại Tây hồ vào tiết Thanh minh chính là một trong những ví dụ nổi tiếng.
Phong tục đội cành liễu, cắm cành liễu theo truyền thuyết là để kỉ niệm vị tổ sư Thần Nông 神农 “dạy dân trồng trọt”, về sau phát triển thành nguyện vọng mong được trường thọ. Dân gian có câu:
Thanh minh bất đới liễu, hồng nhan thành hạo thủ 清明不戴柳, 红颜成皓首
(Vào tiết Thanh minh mà không cài cành liễu, thì cô gái xinh đẹp cũng trở thành bà lão)…..
Huỳnh Chương Hưng ( việt dịch)
Quy Nhơn 04/4/2016
(Tiết Thanh Minh năm Bính Thân)
Nguyên tác Trung văn
THANH MINH TIẾT
清明节
Trong quyển
TRUNG QUỐC PHONG TỤC ĐẠI TỪ ĐIỂN
中国风俗大辞典
Chủ biên: Thân Sĩ Nghiêu 申士垚, Phó Mĩ Lâm 傅美琳
Trung Quốc Hoà Bình xuất bản xã xuất bản, 1994.
Thanh minh tiết 清明节 cũng gọi là “Đạp thanh tiết” 踏青节, “Hành thanh tiết” 行清节, “Tam nguyệt tiết” 三月节, Tế tổ tiết” 祭祖节, tiết kì giao thời khoảng vào giữa xuân với cuối xuân. Thanh minh tiết bắt nguồn từ tín ngưỡng tổ tiên với lễ tục tế xuân thời thượng cổ, gồm hai nội hàm lớn là tự nhiên và nhân văn, vừa là điểm tiết khí của tự nhiên, cũng là tiết nhật truyền thống. Tảo mộ tế tổ với đạp thanh vui chơi là chủ đề hai đại lễ tục của Thanh minh tiết, chủ đề hai lễ tục truyền thống này từ thời cổ tại Trung Quốc đã có sự truyền thừa đến nay không gián đoạn.
Thanh minh tiết là tiết nhật cổ xưa của dân tộc Trung Hoa, vừa là tiết nhật nghiêm túc cung kính tảo mộ tế tổ, cũng là tiết nhật đạp thanh vui chơi thân cận với tự nhiên, hưởng thụ mùa xuân. Chuôi sao Đẩu 斗 chỉ phương vị Ất 乙 là Thanh minh tiết khí, thời gian giao tiết trước sau ngày 4 ngày 5 dương lịch. Thời tiết lúc này sinh khí thịnh vượng, âm khí thoái lui, vạn vật nhả khí cũ hấp thu khí mới, khắp mặt đất thể hiện cảnh tượng sáng trong, là lúc thích hợp để ra ngoại ô vui chơi đạp thanh và cử hành tảo mộ tế tổ.
Thanh minh tiết là tiết nhật tế xuân trọng đại truyền thống, tảo mộ cúng tế, tưởng nhớ tổ tiên là truyền thống tốt đẹp từ xưa đến nay của dân tộc Trung Hoa, không chỉ có lợi cho việc hoằng dương đạo hiếu, kêu gọi gia tộc cùng tưởng nhớ mà còn thúc đẩy sức ngưng tụ và tình cảm nhận đồng giữa các thành viên gia tộc cho đến dân tộc. Thanh minh tiết dung hợp tiết khí tự nhiên với phong tục văn nhân thành nhất thể, là sự hợp nhất giữa thiên thời địa lợi và nhân hoà, thể hiện đầy đủ sự truy cầu hài hoà hợp nhất giữa thiên, địa, nhân của tổ tiên dân tộc Trung Hoa, chú trọng tư tưởng thuận ứng thiên thời địa nghi, tuân tuần quy luật tự nhiên.
Thanh minh tiết清明节 cùng Xuân tiết 春节, Đoan ngọ tiết 端午节, Trung thu tiết 中秋节gọi chung là “Trung Quốc tứ đại truyền thống tiết nhật”.
Nội hàm văn hoá của Thanh minh tiết
Thanh minh tiết là đại tiết tế tổ thịnh đại long trọng nhất của dân tộc Trung Hoa, thuộc về tiết nhật truyền thống văn hoá lễ kính tổ tiên, thận chung truy viễn. Thanh minh tiết ngưng tụ tinh thần dân tộc, truyền thừa văn hoá tế tự của văn minh Trung Hoa, bộc lộ tình cảm đạo đức kế chí thuật sự, mọi người tôn kính tổ tiên. Tảo mộ tức “mộ tế” 墓祭, gọi đó là “tư thời chi kính” 思时之敬 (hết sức thành kính khi tưởng nhớ) đối với tổ tiên. Tế xuân tế thu từ thời cổ đã có. Lịch sử Thanh minh tiết lâu đời, bắt nguồn từ tín ngưỡng tổ tiên và lễ tục tế xuân thời thượng cổ. Căn cứ vào thành quả nghiên cứu của nhân loại học, khảo cổ học, hai tín ngưỡng nguyên thuỷ nhất của nhân loại là tín ngưỡng thiên địa và tín ngưỡng tổ tiên. Theo sự khai quật khảo cổ, tại di chỉ trấn Thanh Đường 青塘 thành phố Anh Đức 英德 tỉnh Quảng Đông 广东 đã phát hiện mộ táng cách nay cả vạn năm, đây là mộ táng với táng thức có niên đại sớm nhất được xác nhận, cho thấy tiên dân thời thượng cổ cả vạn năm trước đã có ý thức về hành vi mộ táng và quan niệm lễ tục. Lễ tục “mộ tế” có nguồn gốc lịch sử lâu đời. “Mộ tế” Thanh minh là sự tổng hợp và thăng hoa của tiết tục mùa xuân truyền thống. Sự chế định lịch pháp can chi thượng cổ cung cấp điều kiện tiên quyết để hình thành tiết nhật. Tín ngưỡng tế tổ và văn hoá tế tự là nhân tố trọng yếu hình thành lễ tục Thanh minh tế tổ. Tiết tục Thanh minh phong phú, quy nạp lại là hai truyền thống đại tiết lệnh: một là lễ kính tổ tiên, thận chung truy viễn, hai là hoạt động vui chơi đạp thanh, thân cận với tự nhiên. Thanh minh tiết không chỉ có chủ đề tế tảo, tưởng nhớ, truy niệm, mà còn có chủ đề vui chơi đạp thanh, thân tâm vui vẻ, lí niệm truyền thống “thiên nhân hợp nhất” trong Thanh minh tiết đã có được sự thể hiện sinh động. Theo sự phát triển của lịch sử, Thanh minh tiết vào thời Đường Tống đã dung hợp tập tục của Hàn thực tiết 寒食节 và Thượng tị tiết 上巳节, trộn lẫn dân tục của các vùng các dân tộc thành nhất thể, có nội hàm văn hoá cực phong phú.
Truyền thuyết câu chuyện Thanh minh tiết
Câu chuyện Giới Tử Thôi 介子推 “cát cổ phụng quân” 割股奉君 (cắt thịt đùi của mình dâng lên quốc quân)
Tương truyền vào thời Xuân Thu, Tấn công tử Trùng Nhĩ 重耳 để tránh bị bức hại mà phải lưu vong ngoài nước. Trên đường lưu vong, đến một nơi vắng vẻ không có một bóng người, vừa mệt vừa đói, không còn sức để đi. Tuỳ thần bên cạnh tìm thức ăn cả buổi mà không có, đương lúc nguy cấp, tuỳ thần Giới Tử Thôi đi đến một nơi vắng, cắt một miếng lớn thịt trên đùi của mình, nấu thành bát canh dâng lên công tử. Trùng Nhĩ dần khôi phục tinh thần. Khi Trùng Nhĩ phát hiện đó là thịt đùi của Giới Tử Thôi đã rơi nước mắt. 19 năm sau, Trùng Nhĩ lên làm quốc quân, đó chính là Tấn Văn Công 晋文公 trong lịch sử. Sau khi lên ngôi, Văn Công ban thưởng rất hậu cho những công thần trước đây từng lưu vong với mình, mà quên mất Giới Tử Thôi. Rất nhiều người lên tiếng bất bình cho Giới Tử Thôi, khuyên Giới Tử Thôi nên gặp quốc quân để đòi ban thưởng, nhưng Giới Tử Thôi xem thường nhất những kẻ tranh công đòi thưởng. Giới Tử Thôi gói ghém hành trang, lặng lẽ đưa mẹ lên Miên sơn 绵山 ẩn cư. Tấn Văn Công sau khi nghe nói, vô cùng xấu hổ, đích thân dẫn người đi mời Giới Tử Thôi, nhưng Giới tử Thôi đã bỏ nhà vào Miên sơn. Miên sơn núi cao đường hiểm, cây cối um tùm, tìm hai người quả là không dễ. Có người hiến kế, thiêu đốt ba mặt của Miên sơn, bức Giới tử Thôi phải ra. Lửa lớn cháy khắp Miên sơn nhưng lại không thấy bóng dáng Giới Tử Thôi đâu. Sau khi lửa tắt, mọi người mới phát hiện Giới Tử thôi trên lưng cõng mẹ ngồi chết dưới một gốc cây liễu già. Thấy cảnh tượng đó, Tấn Văn Công khóc lên. Lúc trang liệm, từ bọng cây phát hiện một bức huyết thư, bên trên viết rằng:
Cát nhục phụng quân tận đan tâm
Đản nguyện chủ công thường thanh minh
割肉奉君尽丹心
但愿主公常清明
(Cắt thịt dâng lên quốc quân thể hiện hết lòng son
Chỉ mong chúa công luôn sáng suốt)
Để kỉ niệm Giới Tử Thôi, Tấn Văn Công hạ lệnh lấy ngày đó định làm “Hàn thực tiết” 寒食节. Năm sau Tấn Văn Công dẫn quần thần lên núi tế bái, phát hiện cây liễu già đã chết giờ sống lại, bèn ban tên cho cây liễu là “Thanh minh liễu” 清明柳, đồng thời hiểu dụ khắp thiên hạ, thế là lại đem một ngày sau Hàn thực tiết định làm Thanh minh tiết.
Trong các sử sách ghi chép, quả thực có Giới Tử Thôi. Nhưng những ghi chép trong sử thư Tả truyện 左传, Sử kí 史记 hoàn toàn không có tình tiết Giới tử Thôi vì núi bị đốt mà chết. Đồng thời, về Hàn thực tiết bắt nguồn từ việc kỉ niệm Giới Tử Thôi, thuyết này sớm nhất cũng vào lúc giao thời giữa Tây Hán và Đông Hán mới có ghi chép (xem “Tân luận” 新论 của Hoàn Đàm 桓谭). Nhiều học giả cho rằng đó là người đời sau khiên cưỡng giải thích Hàn thực tiết mà ra. Theo sự khảo chứng, khởi nguồn của Thanh minh tiết kì thực không liên quan gì đến Giới Tử Thôi. Thanh minh tiết là một đại tiết tế xuân, trước đời Chu đã xác định. Địa vực Trung Quốc rộng lớn, thời Tiên Tần phong tục nam bắc khác nhau, trong văn hiến chủ yếu ghi chép bắc tục. Thời Đường là thời kì dung hợp phong tục mộ tế các nơi. Từ đó về sau tiết tục mộ tế lúc Thanh minh tế dần xuất hiện trong các sử sách. Tiết nhật truyền thống trong diễn biến của sự phát triển lịch sử đa phần được gán ghép vào một truyền thống làm “khởi nguyên”, nhưng theo khảo sát thực tế, cách nói này luôn muộn hơn nhiều so sự ra đời của tiết nhật, nó là do đời sau tạo ra.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 04/4/2020
12/3 Thanh minh tiết năm Canh Tí
Nguồn
https://baike.baidu.com/item/%E6%B8%85%E6%98%8E%E8%8A%82/137575