Trừ tịch 除夕 là buổi tối cuối cùng của năm âm lịch, hàm nghĩa năm cũ đến đây là hết, đổi sang năm mới. Thời cổ còn gọi là “trừ nhật” 除日, “trừ dạ” 除夜, “tuế trừ” 岁除, “tuế mộ” 岁暮, “tuế tận” 岁尽, “mộ tuế” 暮岁. Dân gian đa phần quen gọi là “đại niên tam thập” 大年三十.

Hoạt động phong tục nhân lúc trừ tịch có rất nhiều.
1- Một là dán xuân liên 春联 (câu đối xuân), treo niên hoạ 年画 (tranh tết). Xuân liên còn có các tên khác là “đối liên” 对联, “đào phù” 桃符, “môn thiếp” 门帖 .... Truyền thuyết cho rằng, trước thời Ngũ Đại, mọi người không thể lí giải được tai hoạ thiên nhiên, cho rằng là do quỷ thần gây ra, thế là lúc đón năm mới, đa số dùng 2 mảnh gỗ đào làm thành hình người dài khoảng 7, 8 thốn, bên trên viết tên 2 vị thần là “Thần Đồ” 神荼 và “Uất Luỹ” 郁垒, treo nơi cửa để tị tà. Thời Ngũ Đại, hoàng đế nước Thục là Mạnh Sưởng 孟昶lần đầu tiên viết liên ngữ:
Tân niên nạp dư khánh
Gia tiết hào trường xuân
新年纳余庆
嘉节号长春
(Năm mới nhận được nhiều niềm vui
Tiết đẹp gọi mùa xuân trường cửu)
Trở thành một cặp câu đối xuân sớm nhất của Trung Quốc (có thuyết cho xuân liên bắt đầu từ đời Tấn).
Niên hoạ 年画 (tranh tết) là từ “môn thần” 门神diễn hoá ra, thời Nghiêu Thuấn 尧舜đã xuất hiện. Thời Tống có niên hoạ bằng mộc bản, hiện tồn niên hoạ sớm nhất là bức “Yểu điệu trình khuynh quốc chi phương dung” 窈窕呈倾国之芳容tranh khắc bản đời Tống của triều Tuỳ, vẽ Vương Chiêu Quân 王昭君, Triệu Phi Yến 赵飞燕, Ban Cơ 班姬, Lục Châu 绿珠, mọi người quen gọi là “Tứ mĩ đồ” 四美图.
Cuối đời Minh đầu đời Thanh, niên hoạ Trung Quốc hình thành 3 đại lưu phái trong dân gian là: Thiên Tân “Dương Liễu Thanh” 天津 “杨柳青”, Tô Châu “Đào Hoa Ổ” 苏州 “桃花坞”, “Sơn Đông “Duy Huyện Hoạ” 山东 “潍县画”.
2- Hai là “thủ tuế” 守岁. Ghi chép sớm nhất được thấy trong Phong thổ kí 风土记của Chu Xứ 周处 thời Tây Tấn:
Chung dạ bất miên, dĩ đãi thiên minh, xưng viết thủ tuế.
终夜不眠, 以待天明, 称曰守岁
(Đêm cuối năm không ngủ để đợi trời sáng, gọi là “thủ tuế”)
Trong Đông Kinh mộng hoa lục 东京梦华录thời Nam Tống cũng ghi rằng:
Trừ tịch ..... sĩ thứ chi gia, vi lô nhi toạ, đạt đán bất mị, vị chi thủ tuế.
除夕 ..... 士庶之家, 围炉而坐, 达旦不寐, 谓之守岁.
(Đêm trừ tịch ..... nhà của bách tính, mọi người ngồi quây quần bên lò cho đến sáng mà không ngủ, gọi là thủ tuế)
Thơ ca vịnh thủ tuế của người xưa rất nhiều, sớm nhất có bài Cộng nội nhân dạ toạ thủ tuế 共内人夜坐守岁của Từ Quân Thiến 徐君茜thời Nam Bắc triều:
Hoan đa tình vị cực
Thưởng chí mạc đình bôi
Tửu trung hỉ đào tử
Tông lí mịch dương mai
Liêm khai phong nhập trướng
Chúc tận thán thành hôi
Vật nghi mấn thoa trọng
Vi đãi hiểu quang thôi.
欢多情未极
赏至莫停杯
酒中喜桃子
粽里觅杨梅
帘开风入帐
烛尽炭成灰
勿疑鬓钗重
为待晓光催
(Chung vui, tình cảm với nhau chưa bao giờ cạn
Cùng thưởng thức rượu chẳng ai dừng li
Thích vì rượu có ngâm đào
Trong bánh “tông’ (1) tìm dương mai
Mở rèm gió thổi vào màn
Đuốc tàn đã thành tro
Sợ gì thoa cài đầu thêm nặng
Cùng đợi nắng ban mai)
Đời sau có Đỗ Phủ 杜甫 với bài Đỗ Vị trạch thủ tuế 杜位宅守岁:
Thủ tuế A Hàm gia
Tiêu bàn (2) dĩ tụng hoa
守岁阿咸家
盘椒已颂花
(Lúc trừ tịch đến nhà A Hàm
Cùng uống rượu có hoa tiêu mừng năm mới)
Lạc Tân Vương 骆宾王 trong bài Tây Kinh thủ tuế 西京守岁 cũng viết
Dạ tương hàn sắc khứ
Niên cộng hiểu quang tân
夜将寒色去
年共晓光新
(Đêm đưa sắc lạnh tiễn đi
Tết đến cùng màu nắng mới)
Thơ Tô Đông Pha 苏东坡 có câu:
Nhi đồng cưỡng bất thuỵ
Tương thủ dạ hoan hoa
Toạ cửu đăng tẫn lạc
Khởi khán bắc đẩu tà
儿童强不睡
相守夜欢哗
坐久灯烬落
起看北斗斜
(Bọn trẻ gắng không ngủ
Suốt đêm cùng chuyện trò vui vẻ
Ngồi lâu đèn đã lụi tàn
Đứng dậy nhìn sao bắc đẩu đã xế ngang)
3- Ba là ăn bữa cơm tối cuối năm, uống rượu Đồ tô 屠苏. Bữa cơm cuối năm còn gọi là “đoàn niên phạn” 团年饭, “túc tuế phạn” 宿岁饭. Trong Yên kinh tuế thời kí 燕京岁时记của Phú Sát Đôn Sùng 富察敦崇 đời Thanh có nói:
Cơm cuối năm dùng gạo kim ngân nấu lên, bên trên có cắm cành tùng bách, điểm thêm kim tiền, táo, quả lật, long nhãn, hương chi. Sau ngày “phá ngũ” (3) mới bỏ.
Người phương bắc ăn bữa cơm cuối năm nhất định phải có sủi cảo (饺子 giảo tử), thường gọi là “canh niên giao tử” 更年交子, người phương nam thì đa phần ăn “niên cao” 年糕. Sủi cảo làm thành hình thoi vàng, còn “niên cao” 年糕. hài âm với “niên cao” 年高 (tuổi cao), đều có hàm ý cát tường. Uống rượu Đồ tô cũng là một phong tục phổ biến lúc trừ tịch. Theo giải thích của Thẩm Ước 沈约người thời Nam Bắc triều trong quyển Tục thuyết 俗说, Đồ tô là nhà được làm bằng cỏ. Truyền thuyết kể rằng, có một vị ẩn sĩ ở trong nhà cỏ, mỗi khi đến đêm trừ tịch, ông luôn tặng cho hàng xóm một thang thảo dược, bảo đem bỏ vào trong giếng, ngày hôm sau lấy nước giếng cho vào bình rượu, cả nhà dùng thì có thể trừ được ôn dịch. Người đời sau chuyên chế dược tửu, bèn gọi đó là “Đồ tô tửu”. Vương An Thạch 王安石 trong bài Nguyên đán 元旦có viết:
Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ
Xuân phong tống noãn nhập Đồ tô
爆竹声中一岁除
春风送暖入屠苏
(Tiếng pháo trúc tiễn đưa năm cũ
Gió xuân đem hơi ấm vào rượu Đồ tô)
Có thể thấy người thời Tống vào lúc trừ tịch vẫn uống rượu Đồ tô.
Đêm trừ tịch còn có tập tục “từ tuế” 辞岁, tặng “áp tuế tiền” 压岁钱. Trong Yên kinh tuế thời kí 燕京岁时记 có nói:
- Phàm vào lúc trừ tịch, Thân vương, Quận vương, bối lặc cùng các quan đi bái yết thân hữu gọi là “từ tuế”. Người trong nhà bái yết bậc tôn trưởng cũng gọi là “từ tuế”. Chú rể mới phải đến nhà nhạc gia để “từ tuế”, nếu không thì sẽ là bất kính.
- Dùng sợi chỉ màu xỏ những đồng tiền lại, kết thành hình rồng, đặt nơi chân giường, gọi đó là “áp tuế tiền”. Bậc tôn trưởng cho tiền con cháu cũng gọi là “áp tuế tiền”.
Phong tục trừ tịch được thấy nhiều trong tiểu thuyết Minh Thanh. Hồi thứ 78 trong Kim Bình Mai 金瓶梅viết về hôm trừ tịch, pháo trúc thiên môn vạn hộ, nhà nhà dán xuân liên, nơi nơi treo đào phù. Tây Môn Khánh 西门庆sau khi đốt xong tiền giấy tế Lí Bình Nhi 李瓶儿, đặt tiệc rượu nơi hậu đường, cả nhà lớn nhỏ theo thứ tự ngồi mời rượu. Các a đầu, các dâu, trẻ nhỏ giúp việc đến khấu đầu. Tây Môn Khánh và Ngô Nguyệt Nương 吴月娘 thưởng cho khăn tay, khăn lau, tiền.
Hồi thứ 53 trong Hồng lâu mộng 红楼梦 có nói, vào hôm trừ tịch, phủ Giả thay Môn thần, đối liên, treo tấm bài, sơn mới lại đào phù, sau đó tế tông đường, cả phủ hướng đến Giả Mẫu hành lễ, phát áp tuế tiền, túi thơm, vàng bạc, bày tiệc chung vui.
Từ những miêu tả trong hai bộ tiểu thuyết trứ danh này có thể thấy, phong tục trừ tịch ở Trung Quốc về cơ bản đã hình thành kết cấu và cách thức, cả trăm ngàn năm nay biến đổi không lớn.
Chú của người dịch
1- Bánh tông: tức “tông tử” 粽子, thời cổ gọi là 椶 (tông); 椶 và 粽 tương thông, cũng còn gọi là “giác thử” 角黍, bởi bánh được làm bằng nếp, gói có góc nên có tên như thế. Hiện nay, người phương nam thích mặn, lấy trứng vịt, thịt làm nhân bánh; người phương bắc thích ngọt, lấy mứt, táo, đậu làm nhân. Nhưng vào thời cổ, những thứ trên rất ít dùng làm nhân. Người xưa thích ăn những thứ hợp với thời tiết, nhân bánh thường thấy nhất chính là quả dương mai lúc đầu mùa hạ. Dùng dương mai làm nhân bánh là có cơ sở khoa học. Bánh tông ăn dễ ngán, khó tiêu hoá, dương mai có vị chua, vừa có thể khai vị, vừa thúc đẩy tiêu hoá. Bánh tông có dương mai vừa ngon, vừa đẹp, vừa dễ tiêu hoá, có thể nói là ba trong một.
(Theo http://news.ifeng.com/a/20170529/51178903_O.shtml)
2- Tiêu bàn 椒盘: phong tục thời cổ vào ngày nguyên đán dùng mâm đựng tiêu, khi uống rượu bỏ tiêu vào trong rượu.
Tụng hoa 颂花: tức Tiêu hoa tụng 椒花颂, tên điển cố, dùng để chỉ lời chúc mừng năm mới. Điển xuất từ Tấn thư 晋书 quyển 96 Liệt nữ truyện – Lưu Trăn thê Trần thị tuyện 列女传 - 刘臻妻陈氏传. Vợ của Lưu Trăn người thời Tấn tên Trần thị rất thông tuệ giỏi thơ văn, từng vào ngày mồng 1 tháng Giêng dâng bài Tiêu hoa tụng. Đời sau dùng điển này để chỉ lời chúc mừng năm mới.
(Theo https://baike.baidu.com/item/%E6%A4%92%E8%8A%B1%E9%A2%82)
3- Ngày “phá ngũ” 破五: tức ngày mồng 5 tháng Giêng. Gọi là “phá ngũ” nhân vì những cấm kị trong thời gian tết, sau ngày này thì có thể phá trừ.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 04/02/2019
(30 tháng Chạp năm Mậu Tuất)
Nguyên tác Trung văn
TRỪ TỊCH
除夕
Trong quyển
TRUNG QUỐC PHONG TỤC ĐẠI TỪ ĐIỂN
中国风俗大辞典
Chủ biên: Thân Sĩ Nghiêu 申士垚, Phó Mĩ Lâm 傅美琳
Trung Quốc Hoà Bình xuất bản xã xuất bản, 1994.
TẠI SAO ĐÊM TRỪ TỊCH LẠI “THỦ TUẾ”
Tập tục đêm trừ tịch không ngủ gọi là “thủ tuế” 守岁 (đón giao thừa). Tại sao mọi người phải “thủ tuế”?
“Thủ tuế” 守岁 còn gọi là “ngao niên” 熬年. Tương truyền, thời cổ có con quái thú tên là “niên” 年, hằng năm cứ đến đêm 30 tết nó lại xuất hiện tác quái. Ngày vui tống cựu nghinh tân trở thành lúc mà mọi người không hài lòng nhất. Đến ngày 30 tết, nhà nhà lo liệu dọn dẹp từ sớm, cửa nẻo đóng chặt. Do sợ con “niên” đến gây hoạ, nên không ai dám ngủ. Để tiêu trừ nỗi sợ hãi con “niên” sắp đến, mọi người bèn chuẩn bị một bữa cơm tối thật phong phú trong một năm. Cả nhà ngồi quây quần bên bàn ăn cười nói vui đùa, nghĩ đến một cuộc sống tốt đẹp ở tương lai, mượn đó để thức đến sáng sớm hôm sau. Đêm 30 tết, nhà nhà giăng đèn kết hoa, đốt pháo, mừng cho bản thân mình tránh được bàn tay ác độc của con “niên”. Về sau, dân gian dần hình thành tập tục thức suốt đêm vào đêm trừ tịch.
Sớm từ thời Tây Tấn đã có ghi chép sự việc liên quan đến “thủ tuế”. Trong Phong thổ chí 风土志 có nói: Đêm trừ tịch, mọi người tặng quà cho nhau, chúc đối phương sang năm mới được tài vận, gọi là “quỹ tuế” 馈岁; chuẩn bị tiệc rượu phong phú, tế thần cầu phúc, đó là phương thức mọi người cáo biệt năm cũ; cả nhà vui vẻ tụ tập bên bàn ăn, cùng hưởng chút phúc khí, gọi là “phân tuế” 分岁; suốt cả đêm không ngủ, cười nói vui đùa đến sáng, đó chính là “thủ tuế”.
Lời tục có nói:
Nhất dạ liên song tuế
Ngũ canh phân nhị niên
一夜连双岁
五更分二年
(Một đêm mà có hai năm liền nhau
Năm canh mà chia làm hai năm)
Cũng chính là nói, đêm trừ tịch mọi người không chỉ từ biệt năm cũ, tống cựu nghinh tân, mà đồng thời tuổi của mọi người cũng được thêm một năm nữa, cho nên có cách nói:
Thử dạ thủ tuế tích niên hoa
此夜守岁惜年华
(Đêm đó “thủ tuế” tiếc tuồi trẻ)
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 23/01/2020
Ngày 29 tháng Chạp năm Kỉ Hợi
Nguyên tác Trung văn
Trong quyển
THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
趣味文化知识大全
Thanh Thạch 青石 biên soạn
Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013
Tết truyền thống của Trung Quốc
“Trừ tịch” 除夕 là đêm của ngày cuối cùng trong năm. Ngày cuối cùng của năm gọi là “tuế trừ” 岁除, ý nghĩa là năm cũ đến đây là “trừ” 除, đổi sang năm mới. “Trừ” 除, tức trừ bỏ; “tịch” 夕chỉ ban đêm. “Trừ tịch” ý nghĩa là đêm “tuế trừ” 岁除, cũng gọi là “đại niên dạ” 大年夜, “trừ tịch dạ” 除夕夜, “trừ dạ” 除夜v.v... là đêm cuối cùng của năm. Trừ tịch là “trừ cựu bố tân” 除旧布新, “hợp gia đoàn viên” 阖家团圆, “tế tự tổ tiên” 祭祀祖先, ngày này cùng với Thanh minh tiết 清明节, Thất nguyệt tiết 七月节, Trùng dương tiết 重阳节 là đại tiết tế tổ truyền thống trong dân gian Trung Quốc. Trừ tịch, có ý nghĩa đặc biệt đối với người Trung Quốc, đây là ngày trọng đại nhất vào lúc cuối năm, con cái làm ăn xa phải về nhà tụ họp cùng gia đình, từ biệt năm cũ trong tiếng pháo, và đón mừng xuân mới.
Trừ tịch cùng tân niên, cuối năm đầu năm nối liền nhau, là giao giới điểm thời gian quan trọng “trừ cựu nghinh tân”. Nhân vì trừ tịch là vào ngày 29 hoặc 30 âm lịch, cho nên gọi ngày đó là “đại niên tam thập” 大年三十. Dân gian rất coi trọng ngày tuế trừ, nhà nhà đều lo quét dọn, bỏ cái cũ bày cái mới, treo đèn kết hoa, đón tổ tiên về ăn tết, đồng thời dâng cũng “niên cao” 年糕 (bánh tổ - ND), “tam sinh” 三牲 (gồm trâu, dê, heo dùng trong tế tự - ND), “tam trà ngũ tửu” 三茶五酒 (trà 3 chung, rượu 5 chung – ND).
Trừ tịch từ cổ đã có tập tục tế tổ, đón giao thừa, ăn cơm đoàn viên, dán giấy đỏ, treo đèn lồng v.v... lưu truyền mãi đến ngày nay.
Tập tục ngày trừ tịch
Tế tổ
Thời cổ, lễ tục này rất thịnh. Nhân vì lễ tục các nơi khác nhau, nên hình thức tế tổ cũng có khác. Có nơi đến mộ tổ ngoài đồng tế bái, có nơi đến từ đường tế bái, nhưng đa phần tại nhà đưa bài vị tổ tiên lần lượt đặt nơi chính sảnh, bày tế phẩm, sau đó lần lượt theo thứ tự lớn nhỏ dâng hương quỳ bái. Người xưa tế tổ, đa số dâng cá, thịt, rau, đựng trong những chiếc bát có chân cao, mang ý nghĩa “chung minh đỉnh thực” 钟鸣鼎食. Người phương nam tế tổ càng long trọng, thường có 8 bát, ở giữa đặt nồi lẩu, theo linh vị mà bày chén đũa, lúc trừ tịch, nguyên đán, nguyên dạ đều mở nắp nồi, tuỳ thời mà thay đổi món ăn. Trừ tịch dạ và Nguyên đán nấu món chay, đêm Thượng nguyên dâng nguyên tiêu (một loại bánh giống bánh trôi nước – ND), hàng ngày sớm tối thắp hương khấu bái, dâng trà mới. Hình thức tế tổ tuy khác nhau, nhưng nhìn chung đêm trừ tịch treo ảnh, đêm Thượng nguyên triệt cúng, bạn bè thân hữu đến chúc tết cũng phải khấu bái tổ tiên, hết sức thành kính, nhân vì mĩ đức kính tổ tiên của mọi người mà tập tục được bảo tồn.
Một số nơi ở Trung Quốc có tập tục trừ tịch tại phần mồ, xưng là “tống niên thực” 送年食. Thời gian ra mộ nhìn chung là lúc trưa ngày tuế trừ, mọi người làm cơm tất niên đem đến phần mộ, để thân nhân đã mất được hưởng dụng món ngon như lúc còn sống, qua đó kí thác nỗi nhớ thương của người sống đối với người đã mất.
Trừ tịch thủ tuế
Trừ tịch “thủ tuế” 守岁 (đón giao thừa) là một trong những hoạt động niên tục. Tập tục thủ tuế có từ rất lâu. Dân tục thủ tuế chủ yếu biểu hiện ở chỗ trong nhà đốt “tuế hoả” 岁火, gia đình quây quần đồng thời canh “tuế hoả” không để cho tắt, đợi thời khắc tống cựu nghinh tân, đón năm mới đến. Đêm trừ tịch đèn lửa sáng suốt đêm không tắt, gọi là “nhiên đăng chiếu tuế” 燃灯照岁 hoặc “điểm tuế hoả” 点岁火, trong phòng thắp sáng đèn, lại còn thắp đèn đặt ở dưới giường, nhìn chung đèn đuốc thắp sáng khắp nơi, gọi là “chiếu hư hao” 照虚耗, theo truyền thuyết, sau khi thắp sáng như thế, sang năm mới trong nhà sẽ dồi dào tài phú. Thời cổ, phong tục nam bắc khác nhau, tập tục thủ tuế ở phương bắc chủ yếu là “ngao niên dạ” 熬年夜 (thức suốt đêm). Như Chu Xứ 周处triều Tấn trong Phong thổ kí 风土记 có nói: Đêm trừ tịch mọi người tặng quà lẫn nhau, gọi là “quỹ tuế” 馈岁; lớn nhỏ vui vẻ tụ họp, chúc tụng, gọi là “phân tuế” 分岁; suốt đêm không ngủ đợi sáng sớm hôm sau, gọi là “thủ tuế” 守岁. Có nơi vào đêm trừ tịch, cả nhà đoàn tụ, ăn bữa cơm đoàn viên, thắp nến hoặc đèn dầu, ngồi quanh bên bếp lò trò chuyện, suốt đêm không ngủ, tượng trưng cho việc xua đuổi ổn dịch tà ma, đón đợi một năm mới cát tường như ý.
Áp tuế tiền
Áp tuế tiền 压岁钱 (tiền mừng tuổi) là một trong những tập tục khi tết đến. Sau bữa cơm chiều, bậc trưởng bối đem tiền mừng tuổi đã chuẩn bị sẵn tặng cho con cháu. Theo truyền thuyết, áp tuế tiền có thể trừ đuổi tà ma, con cháu có tiền sẽ được một năm mới bình an. Trong văn hoá dân tục, áp tuế tiền ngụ ý tị tà đuổi quỷ, bảo hộ bình an. Dụng ý lúc ban đầu của áp tuế tiền là trấn ác khu tà. Nhân vì mọi người cho rằng trẻ em dễ bị ma quỷ xâm hại, cho nên dùng nó để xua đuổi ma quỷ. Trong lịch sử, áp tuế tiền phân làm nhiều loại, nhìn chung lúc đếm ngược thời gian năm mới sắp đến, bậc trưởng bối tặng cho con cháu, biểu thị “áp tuý” 压祟 (đuổi quỷ), bao hàm sự quan tâm và chúc phúc của bậc trưởng bối đối với con cháu, một loại khác là con cháu tặng cho bậc trưởng bối, chữ “tuế” 岁 (tuổi) trong “áp tuế tiền” 压岁钱 mang ý nghĩa cầu mong bậc trưởng bối trường thọ. Có thể truy ngược áp tuế tiền, vào thời Hán gọi là “áp thắng tiền” 压胜钱, nó không phải là loại tiền lưu thông nơi chợ, mà là loại tiền đúc để thưởng ngoạn, có công năng tị tà.
Ngày tết tặng áp tuế tiền, thể hiện sự quan tâm yêu mến của bậc trưởng bối đối với con cháu, và thể hiện sự tôn kính của con cháu đối với bậc trưởng bối, là một hoạt động dân tục liên quan đến luân lí gia đình.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 24/01/2020
(Ngày 30 tháng Chạp năm Kỉ Hợi)
Nguồn
https://baike.baidu.com/item/%E9%99%A4%E5%A4%95/128141?sa=X&ved=2ahUKEwir_qD71I7nAhW5LqYKHZR9AOcQFjADegQIChAB