Truyền Thuyết Hỷ Thần

Thứ sáu, 03/09/2021, 19:51

HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT
TỔ TIÊN HOẠ TƯỢNG

hy-than

Đời Tống gọi “hoạ tượng” 画像 (ảnh chân dung) là Hỉ thần, Hỉ thần là lời tục thường dùng đời Tống.

Từ đời Tống trở về sau, Hỉ thần đa phần chỉ hoạ tượng tổ tiên. Sùng bái tổ tiên là sự kết hợp giữa quan niệm hồn quỷ và quan niệm huyết duyên, cho nên tổ tiên cũng xưng là Thần tổ, bài vị tổ tông cũng xưng là Thần chủ, di tượng tổ tông cũng xưng là Hỉ thần. Trong tổ tông được sùng bái, đối với việc lập nghiệp của gia tộc, sinh sôi phát triển có cống hiến đột xuất thì thuỷ tổ là chí tôn, thần cách tối cao, được thờ phụng làm thần bảo hộ của gia tộc tính thị huyết thống. Con cháu kiền thành thắp hương lễ bái, nhớ tới ân trạch cần cù khai phá của tiên nhân, cầu mong sự bảo hộ tổ linh vĩnh hằng bất diệt. Cho nên tế tổ, bái tổ trở thành đại sự của mọi người.

Du Minh 俞明 trong Ngũ muội cựu mộng 五妹旧梦 có thuật lại thuyết vào năm mới tế bái Hỉ thần:

Nhập tứ dạ hậu, trạch tử lí đáo xứ phi hồng quải thái, môn sảnh lí quải khởi tứ trản đại hồng đăng lung, hoàn hình sảnh thượng quải trước kỉ trản tẩu mã đăng. Cung trác thượng thỉnh xuất Hỉ thần, Hỉ thần tựu thị tổ tông thần thượng, chính trung nhất bức đại hồng hỉ tự, thị Hàm Phong đế tứ cấp Bành Khải Phong đích ngự bút.
          廿四夜后, 宅子里到处披红挂彩, 门厅里挂起四盏大红灯笼, 环形厅挂上著几盏走马灯. 供卓上请出喜神, 喜神就是祖宗神像, 正中一幅大红喜字, 是咸丰帝赐给彭启丰的御笔.
          (Sau đêm ngày 24, trong nhà khắp nơi treo lụa đỏ gấm màu, trong môn sảnh treo 4 chiếc đèn lồng đỏ lớn, trong sảnh hình tròn treo mấy chiếc đèn tẩu mã. Trên bàn cúng, thỉnh Hỉ thần ra, Hỉ thần chính là thần tượng tổ tông, chính giữa là bức chữ hỉ lớn màu đỏ, là ngự bút của hoàng đế Hàm Phong tặng cho Bành Khải Phong)

         

Cuối đời Thanh, Ngô Nghiên Nhân 吴研人 trong quyển Nhị thập niên mục đổ chi quái hiện tượng 二十年目睹之怪现状, ở hồi thứ 79 “Luận tang lễ thống biếm lậu tục, chúc minh thọ nhạ xuất kì đàm” 论丧礼痛砭陋俗祝冥寿惹出奇谈 đã miêu tả:
Đến ngày đầu chính nhật, thiết lập thọ đường, Bá Minh đích thân chỉ huy đốc suất trần thiết thoả đáng, bèn nói với Nhã Cầm 雅琴: “Lúc này đây có thể thỉnh Hỉ thần lão bá mẫu ra.” Nhã Cầm hỏi: “Hỉ thần nào?” Bá Minh đáp: “Chính là chân dung”. Nhã Cầm mới hỏi: “Là như thế nào?” Bá Minh đáp: “Một người mất đi, dựa theo khuôn mặt của họ mà vẽ một chân dung, đến năm mới thì treo lên để thờ, bái âm thọ này không thể thiếu được.”
         

Dân gian thời Minh Thanh cũng gọi tổ tông là Hỉ thần, thời trước nhà nhà đa phần treo vào lúc Trừ tịch, dùng hương đăng quả phẩm trà để dâng cúng, đồng thời dẫn người trong nhà đến bái, gọi là “bái Hỉ thần”. Cố Lộc 顾禄, người Thanh trong quyển Thanh gia lục – Chinh nguyệt – Quải Hỉ thần 清嘉录 - 正月  - 挂喜神 chép tập tục Tô Châu, nói rằng:
         

Mồng 1 tháng Giêng năm mới âm lịch, nhà nhà đều treo hoạ tượng tổ tiên, trước thần vị tổ tiên thắp hương cúng bái, người trong nhà theo thứ tự lớn nhỏ kiền thành tế bái, gọi là bái Hỉ thần.
         

Xuân tiết tế tổ là sự lưu truyền việc sùng bái tổ tiên từ thời viễn cổ, cầu âm linh tổ tiên phù hộ, giáng phúc cho mình, tự nhiên xem tổ tiên là Hỉ thần. Thái Vân 蔡云 người Thanh trong Ngô Du bách tuyệt 吴歈百绝 cũng nói:

Hữu kỉ nhân gia quải Hỉ thần
Thông thông bái tiết sấn thanh thần
Đông phì niên sấu sinh phân biệt (1)
Thượng tập Cơ gia kiến Tí xuân
有几人家挂喜神
匆匆拜节趁清晨
冬肥年瘦生分别
尚袭姬家建子春
(Có mấy nhà treo tượng Hỉ thần
Vội vàng lễ bái nhân lúc sáng sớm
Có sự phân biệt coi trọng Đông chí mà coi nhẹ tiết xuân
Theo tập tục nhà Chu lấy tháng 11 kiến Tí làm đầu năm)
Ghi chép rõ tập tục chủ yếu lúc Đông chí là bái tiết, kính thần, cũng cho thấy vị thần được kính đó là Tổ tiên Hỉ thần.

         

Tập tục ở Thái Bình 太平 An Huy 安徽, tổ tông không chỉ được cả tộc tế tự trong từ đường của làng, mà còn được tế tự trong mỗi gia đình, ăn tết cùng con cháu. Ngày 24 tháng Chạp, là ngày tổ tông “hạ giá” 下驾, mỗi nhà trước đó mấy ngày phải dọn dẹp chính sảnh, lau chùi sạch sẽ, từ lầu gác cao nhất của cả nhà thỉnh Tổ tông Hỉ thần ra, từng bức từng bức treo lên. Phục trang của Tổ tông Hỉ thần, có từ mũ ô sa đai ngọc của triều Minh đến linh đới triều châu của triều Thanh, lại còn có “yến vĩ phục”, mũ đại lễ thời Dân Quốc. Nơi chính sảnh treo hoa đăng cung đình lụa đỏ, dưới trải thảm đỏ, bàn và ghế nhất loạt gắn màn đỏ, trên án thắp đuốc đỏ, có mâm son, nhìn thấy lung linh mãn nhãn, hỉ khí tràn trề.

Chú của người dịch
1- Tập tục vùng đất Ngô đa phần coi trọng Đông chí mà coi nhẹ tiết xuân, Đông chí đến nhà nhà đều sắm sửa lễ vật dâng cúng rất hậu, còn ngày tết thì ít hơn nên mới có câu “Đông phì niên sấu”.
          Người xưa lấy tháng có tiết Đông chí 冬至 (tháng 11 theo lịch nhà Hạ) làm tháng kiến Tí. Cơ gia 姬家chỉ triều Chu, lịch pháp triều Chu lấy tháng đó làm tháng đầu của năm, cho nên có thể gọi tuế thủ của Chu lịch là “kiến Tí xuân”.
 

HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT
VÔ ẢNH VÔ TINH        

-----------------------

Hỉ thần 喜神, là vị thần cát tường huyễn tưởng trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc. Nhưng Hỉ thần không giống với các tục thần khác trong dân gian, không có miếu chuyên thờ. Hỉ thần lúc ban đầu rất trừu tượng, không có hình tướng cụ thể, so với minh tướng của các thần khác thì trống rỗng, tựa hồ mọi người khó mà sờ mó được. Về sau, Hỉ thần có tôn dung của mình, nhưng hình dáng lại không có đặc điểm gì rõ ràng, hoàn toàn là phiên bản của Phúc thần Thiên quan, đại khái là tác phẩm xuất phát từ việc người đời căn cứ vào sự tưởng tượng tâm lí xu cát tị hung, truy cầu hỉ lạc của mình mà ra.
         

Trong thần thoại thời thượng cổ có một vị cát thần tên Thái Phùng 泰逢, trong Sơn hải kinh – Trung thứ tam kinh 山海经 - 中次三经có chép, Thái Phùng hình người đuôi rắn, có thể động thiên địa, nổi mây mưa. Đó là vị thần linh chủ về việc tốt, đại khái xem như vị thần cát tường sớm nhất của Trung Quốc, truyền thuyết cho rằng người phàm có hỉ sự, thì có thể thấy được Thái Phùng, có mối quan hệ nguồn gốc hoặc nhiều hoặc ít với Hỉ thần của đời sau.
         

Hỉ thần ra đời lúc nào và ở đâu, hiện nay không thể khảo chứng, chỉ biết Hỉ thần lưu truyền trong dân gian muộn hơn 3 vị thần Phúc, Lộc, Thọ. Hỉ thần không giống như 3 vị thần Phúc, Lộc, Thọ từ tinh tú diễn biến mà ra, cùng không có hình thần để phân biệt, đó là đặc điểm lớn nhất của Hỉ thần.
         

Hỉ thần trong truyền thuyết dân gian là một nữ thần, hơn nữa lại có bộ râu dài, nguyên bản là một cô gái bái Bắc Đẩu tinh quân để tu luyện. Lúc tu chân thành đạo, Bắc Đẩu tinh quân vì lòng thành của cô hiển hiện hình cô gái trước mặt, hỏi rằng cô có mong cầu điều gì, cô gái chỉ lấy tay vuốt miệng, cười không đáp. Bắc Đẩu tinh quân nhầm tưởng cô gái cầu xin bộ râu, bèn ban cho bộ râu dài, đồng thời lấy hình tượng lúc cô gái cười mà phong là Hỉ thần, chỉ có điều nhân vì có bộ râu dài, không muốn để cho người phàm nhìn thấy diện mạo chân thực của cô. Từ đó, Hỉ thần chuyên quản về hỉ khánh, nhưng lại không hiển hiện rõ thần hình.
         

Hỉ thần là sự kí thác cuộc sống và tinh thần của người Nội Khâu 内丘 Hà Bắc 河北, vả lại Hỉ thần được nhân cách hoá là nữ tính, mũi cao mắt lớn, tóc kết búi, ôm đàn tì bà, miệng nở nụ cười.
         

Thời trước mọi người khi ăn tết, bất luận là giàu nghèo, có một quyển sách cần phải mua, đó là sách lịch. Trong sách lịch từ mồng 1 đến mồng 5 tháng Giêng trong 5 ngày này dưới ô của mỗi ngày, trừ những hàng chữ nhỏ như Hoàng đạo, Hắc đạo, nên hay không nên tắm gội, nên hay không nên cưới hỏi v.v... còn dùng chữ lớn in “Hỉ thần chính bắc” hoặc “Hỉ thần tây nam”. Đó là báo cho mọi người biết ngày hôm đó là ngày nghinh Hỉ thần mỗi năm một lần. Nghinh Hỉ thần tuy thuộc tín tục, nhưng Hỉ thần hoàn toàn không phải là vị thần linh tưởng tượng không có cơ sở, mà là dựa theo can chi và bát quái tính toán ra một loại phương vị, thế là dân gian sáng tạo ra phương vị mà Hỉ thần mỗi ngày cư trú, theo can chi tính ra ngày giờ, theo bát quái định ra phương vị, xác định Hỉ thần của ngày nào, giờ nào, ở phương vị nào, để tế tự cầu hỉ.
         

Hoàng đế Càn Long 乾隆 đời Thanh còn trịnh trọng hạ chỉ biên soạn bộ sách Hiệp kỉ biện phương thư 协纪辨方书liên quan đến việc tìm phương vị của Hỉ thần, mục Nghĩa lệ – Hỉ thần 义例 - 喜神 trong sách có chép việc nhận biết phương vị Hỉ thần:
         

Hỉ thần vu Giáp Kỉ nhật cư Cấn phương, thị tại Dần thời, Ất Canh nhật cư Càn (1) phương, thị tại Tuất thời; Bính Tân nhật cư Khôn phương, thị tại Thân thời; Đinh Nhâm nhật cư Li phương, thị tại Ngọ thời; Mậu Quý nhật cư Tốn (2)  phương, thị tại Thìn thời.
          喜神于甲己日居艮方, 是在寅时; 乙庚日居乾 (1) 方, 是在戌时; 丙辛日居坤方, 是在申时; 丁壬日居离方, 是在午时; 戊癸日居巽 (2) 方, 是在辰时.
          (Hỉ thần vào ngày Giáp Kỉ ở phương Cấn, tại giờ Dần; ngày Ất Canh ở phương Càn, tại giờ Tuất; ngày Bính Tân ở phương Khôn, tại giờ Thân; ngày Đinh Nhâm ở phương Li, tại giờ Ngọ; ngày Mậu Quý ở phương Tốn, tại giờ Thìn)
         

Trong Đạo thư có Lục thập hoa giáp tử Hỉ thần phương, chỉ rõ phương hướng can chi mỗi ngày Hỉ thần cư trú. Như Giáp Tí, Hỉ thần đông bắc; Kỉ Sửu Hỉ thần tây bắc ... Có chuyên thư phân biệt rõ phương vị của Hỉ thần này, sẽ biết được ngày nào giờ nào Hỉ thần ở phương vị nào, lúc nghinh Hỉ thần cũng dựa theo sách tra phương vị của Hỉ thần, cầu thần càng thêm thuận tiện.
          Trong lịch thư tra rõ phương vị của Hỉ thần, hoàng gia cần cử hành nghi thức, theo phương vị của Hỉ thần đưa trâu thần ra ngoại ô nghinh Hỉ thần. Trâu phải khoác vải đỏ, trổi nhạc để tống; vị quan coi về trâu đánh roi phát ra tiếng kêu, gọi đó là “tiên xuân” 鞭春, và suốt cả ngày vui vẻ. Cách làm đó đại khái là để mong người và súc vật được hưng vượng, ngũ cốc được mùa. Tại Tô Châu, mỗi năm trước và sau Lập xuân có hoạt động dân tục nghinh cúng Hỉ thần long trọng. Đến giờ, quan viên địa phương thống lĩnh sĩ tốt trong quân doanh, một hàng nhân mã rầm rộ kéo đến thần đàn của miếu Thành Hoàng 城隍, cử hành long trọng nghi thức nghinh đón và tế tự Hỉ thần. Thái Vân 蔡云đời Thanh trong Ngô Du 吴歈 có miêu tả việc nghinh đón và tế tự Hỉ thần:
Nam lai hỉ khí viễn nghinh tương
Giáp đạo du nhân nhược đổ tường
Nhất trận hương phong tiếu thanh khởi
Hoạ lâu hà xứ bất tân trang
南来喜气远迎将
夹道游人若堵墙
一阵香风笑声起
画楼何处不新妆
(Hỉ khí từ phương nam đến, từ xa đã nghinh đón
Hai bên đường, người đi dạo chơi ken chật như bức tường
Một cơn gió thơm thổi đến, tiếng cười rộn lên
Lầu gác hoa lệ nào mà không trang trí lại cho mới và đẹp)
          Thời trước không chỉ bách tính, giới mua bán, kĩ nữ nghinh Hỉ thần, mà các lão gia làm quan cũng nghinh Hỉ thần để mong điều cát lợi, nghinh Hỉ thần đã trở thành một hoạt động dân tục lưu hành rất rộng.
          Đón năm mới, ở phương bắc có nghi lễ “song Hỉ thần” 双喜神, từ sáng sớm ngày mồng 1 tháng Giêng trở đi có trình tự nghinh Hỉ thần, tiếp Tài thần, dựa theo phương vị của Hỉ thần, do gia trưởng chủ tế thắp hương xuất nghinh. Thành trấn phương nam thì lưu hành tập tục sáng sớm “tân Chinh” 新正 (mồng 1 tháng Giêng) “đâu Hỉ thần phương” 兜喜神 , tức đi đến phương vị của Hỉ thần tìm vận may của một năm. Người vùng Khê Khẩu 溪口 Chiết Giang 浙江 sùng thượng Tài thần, Hỉ thần, có cặp đối:
Tài thần thường tiến cần kiệm trạch
Hỉ thần trường bạn thiện lương nhân
财神常进勤俭宅
喜神长伴善良人
(Tài thần thường đến với nhà cần kiệm
Hỉ thần luôn làm bạn với người thiện lương)
          Trong Trường Sa tân niên kỉ tục thi 长沙新年纪俗诗 có câu:
Xuất hành đô hướng Hỉ thần phương
Linh đính quan ngoa bôn tẩu mang
出行都向喜神方翎顶官靴奔走忙
(Xuất hành đều theo hướng có Hỉ thần
Quan lại đội nón có gắn đuôi công, mang ủng đi lại bận rộn)
          Hỉ thần rốt cuộc là như thế nào, hoàn toàn không có hình tượng cố định. Trong tranh tết dân gian, có Hỉ thần tựa Thiên quan, có Hỉ thần tựa Tài thần. Đời Thanh, tranh tết dân gian “Hỉ thần môn quan” 喜神门官 ở Bắc Kinh vẽ vị Thiên quan một tay cầm hốt, tay kia bưng chữ 囍, phía sau có hai đứa bé cầm cờ phan “song hỉ lâm môn” 双喜临门; còn “song hỉ long môn” 双喜临门 thì vẽ hai đứa bé một đứa tay cầm ngọc như ý, tay kia bưng chữ 囍; còn đứa kia tay cầm cành hoa, tay bưng quả Phật thủ. Cũng có tranh vẽ hai vị Tài thần tay ôm san hô, phía sau mỗi thần có một đồng tử, đồng tử ôm bảo bình, trong bình nổi lên chữ “song hỉ”. “Hoà Hợp nhị tiên” 和合二仙 cũng là Hỉ thần dân gian. “Hỉ” được miêu hoạ trong tranh tết dân gian “Phúc Lộc Thọ hỉ” 福禄寿喜 chính là tranh mừng tân hôn dán nơi cửa tràn đầy hỉ khánh, tràn đầy không khí cát tường, trong chữ 喜có khảm hình Hoà Hợp nhị tiên.

Chú của người dịch
1- Ở đây trong nguyên tác in nhầm là chữ 干
2- Ở đây trong nguyên tác là chữ 撰

 Huỳnh Chương Hưng ( việt dịch)
 Quy Nhơn 30/10/2019

Nguồn
HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT – VÔ HÌNH VÔ TINH
喜神传说 - 无形无星
Trong quyển
ĐỒ THUYẾT HỈ VĂN HOÁ
图说喜文化
Tác giả: Ân Vĩ 殷伟, Trình Kiến Cường 程建强
Bắc Kinh: Thanh Hoa đại học xuất bản xã, 2013

                                 

HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT
CAO MÔI NỮ OA

--------------------

 

Nữ Oa 女娲 là vị nữ thần được dân gian Trung Quốc sùng bái từ lâu đời, bà được xem là sáng thế thần, thuỷ tổ thần, lại là hồng hỉ thần chuyên quản việc hôn nhân, tức vị Môi thần 媒神 (vị thần chuyên về mai mối hôn nhân) sớm nhất từ khi có sử đến nay

Theo truyền thuyết, Nữ Oa có thể hoá sinh vạn vật, công tích vĩ đại của bà một là luyện đá vá trời, hai là nặn đất thành người. Nữ Oa dùng hoàng thổ và nước tạo ra con người, nghĩ đến người cần phải đời đời nối nhau, sinh sôi bất tuyệt, vì thế sáng lập ra chế độ hôn nhân, khiến nam nữ kết hợp sinh đẻ con cái, thế là Nữ Oa trở thành người mai mối đầu tiên, được đời sau tôn thờ là “Môi thần”, cũng được xưng là “Cao môi” 高禖. Điển lễ mà mọi người tế tự vị thần này rất long trọng. Sự xuất hiện của thần Nữ Oa đã phản ánh hôn nhân trong xã hội thị tộc mẫu hệ lấy nữ làm trung tâm, nữ tộc trưởng nắm giữ đại sự hôn nhân trong toàn tộc.
         

Nữ Oa, nữ đế thời thượng cổ, dân gian xưng là Nữ Oa Nương Nương 女娲娘娘, có danh khí rất lớn trong số chư thần viễn cổ được dân gian thờ kính. Hình tượng Nữ Oa được ghi chép trong Sơn Hải kinh 山海经 là mặt người thân rắn, một ngày có 70 lần biến hoá, thần thông quảng đại.
         

Trong Hoài Nam Tử - Lãm minh 淮南子 - 览冥có nói, thời thượng cổ, bốn trụ chống trời bị phế, cửu châu tách ra, trời không thể che toàn bộ, đất không thể chở toàn bộ. Khắp nơi đều là đại hoả hồng thuỷ, mãnh thú ăn thịt người, chim lớn cắp lấy người già và trẻ nhỏ để ăn. Lúc bấy giờ Nữ Oa đang luyện đá ngũ sắc để vá trời, liền bẻ lấy chân con ngao làm trụ chống, giết hắc long cứu Kí Châu 冀州, tích chứa tro của cỏ lô để ngăn nước lớn. Công lao của bà, trên có thể đến chín tầng trời, dưới có thể đến địa phủ.
         

Lại có truyền thuyết Nữ Oa nặn đất tạo ra con người mà nhà nhà đều biết. Truyền thuyết kể rằng, khi trời đất vừa mới từ hỗn độn tách ra, trên mặt đất không có người. Nữ Oa cho rằng có người, cuộc sống trên mặt đất sẽ tốt hơn, thế là bà dùng hoàng thổ nặn thành người. Công việc quá nhiều, bà quả thực rất bận, bèn dùng sợi dây thừng nhúng vào bùn đất, vết bùn văng ra thành con người. Con người được tạo ra phải thông qua hôn nhân mới có đời sau, nhân đó mà Nữ Oa không chỉ tạo ra con người mà còn quan tâm đến việc hôn nhân của con người.
         

Để cho nhân loại được kéo dài liên miên bất tuyệt, Nữ Oa đặt ra tính thị và chế định lễ chế hôn thú, sáng lập ra chế độ hôn nhân, khiến nam nữ tương ái kết hợp, kiến lập gia đình, sinh con đẻ cháu. Bà được tôn xưng là “Môi thần” 媒神, cũng xưng là “Cao môi” 高媒, “Cao môi” 皋媒, “Thần môi”神媒, “Nữ môi” 女媒... vị thần chuyên về ái tình, hôn nhân, sinh sản.
         

Mã Túc 馬驌đời Thanh trong quyển Dịch sử 绎史 đã dẫn Phong tục thông 风俗通, nói rằng, Nữ Oa trong miếu Thần, đảo cáo cầu xin thần cho bà làm “Nữ môi”. Được Thần hứa cho, Nữ Oa bèn sắp xếp việc hôn phối của nam nữ , từ đó mới có hôn nhân. La Bí 罗泌 đời Tống trong Lộ sử - Hậu phi nhị 路史 - 后妃二 nói rằng, Nữ Oa làm người mai mối, cho nên người đời sau khi kiến lập quốc gia, đã thờ bà làm Môi thần. Thời Tiên Tần, thiên tử đích thân chủ trì tế tự Môi thần, nghi thức long trọng, xét thực chất là hình thức biểu đạt tế bái tổ tiên. Trong Lễ kí 礼记 có chép, để tế tự Thần hôn nhân, mọi người tại vùng ngoại ô kiến lập miếu Cao môi 高禖, dùng lễ tiết long trọng nhất là tam sinh heo, trâu, dê nguyên cả con để dâng tế. Nữ Oa không chỉ tạo ra người Trung Quốc mà còn là vị thần hôn nhân của người Trung Quốc. Trong Chu lễ - Môi thị 周礼 - 媒氏 có nói: Tháng 2 Trọng Xuân, thanh niên nam nữ tập trung lại với nhau ca múa vui chơi. Nam nữ nào tâm đầu ý hợp, ra nơi đồng trống, lấy trăng sao trên trời làm màn, lấy cỏ xanh làm giường, tự do kết hôn, gọi là “thiên tác chi hợp” 天作之合, lúc bấy giờ không ai có thể can thiệp, việc tư bôn cũng không cấm chỉ, người mà không có con, cũng đến miếu Nữ Oa cầu xin, Nữ Oa nhân đó cũng kiêm luôn làm “Tống Tử Nương Nương” 送子娘娘.
         
                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 30/11/2019

Nguồn
HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT – CAO MÔI NỮ OA
喜神传说 - 高媒女娲
Trong quyển
ĐỒ THUYẾT HỈ VĂN HOÁ
图说喜文化
Tác giả: Ân Vĩ 殷伟, Trình Kiến Cường 程建强
Bắc Kinh: Thanh Hoa đại học xuất bản xã, 2013

 

HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT
NGUYỆT QUANG BỒ TÁT

-------------------

          Nguyệt thần 月神 còn được gọi là Nguyệt Quang Bồ Tát 月光菩萨, Nguyệt Quang Nương Nương 月光娘娘, Nguyệt Cung Nương Nương月宫娘娘, Thái Âm Tinh Chủ 太阴星主, Nguyệt Cung Thái Âm Thiên Tôn 月宫太阴天尊... là một trong những vị thần tiên lưu truyền rộng rãi nhất trong dân gian Trung Quốc. Sự sùng bái Nguyệt thần tại Trung Quốc có lịch sử lâu đời, bắt nguồn từ việc sùng bái thiên thể trong tín ngưỡng nguyên thuỷ, phản ánh khát vọng và sự yêu thích của người đời đối với ánh sáng mặt trăng.
         

Mặt trăng loang lổ, âm u lúc tròn lúc khuyết khiến mọi người cảm thấy có sự thần bí. Trong đêm tối, mặt trăng mang lại ánh sáng, ánh sáng mông lung, lại khiến mọi người tưởng tượng xa vời, nhân đó mà nảy sinh nhiều giai thoại.
         

Truyền thuyết Nguyệt thần cổ xưa nhất xuất phát từ bộ Sơn hải kinh 山海经 nguồn gốc của thần thoại Trung Quốc. Thê tử của Đế Tuấn 帝俊 là Thường Hi 常羲 là nữ thần mặt trăng xinh đẹp, bà sinh được 12 cô gái mặt trăng, cư trú ở phía tây hoang dã. Thường Hi thường tắm cho các cô ấy.
         

Trong thần thoại về mặt trăng, nhà nhà đều biết câu chuyện “Thường Nga bôn nguyệt” 嫦娥奔月. Trong Hoài Nam Tử - Lãm minh huấn 淮南子 - 览冥训có chép, Thường Nga 嫦娥 là thê tử của Hậu Nghệ 后羿, nhân vì Hậu Nghệ bắn rơi 9 mặt trời, đắc tội với Thiên Đế, Thiên Đế biếm ông ta xuống nhân gian. Về sau, Hậu Nghệ có được thuốc trường sinh bất lão của Tây Vương Mẫu 西王母, sau khi Thường Nga lén uống linh dược đã bay lên trời. Thường Nga sợ bị thiên tiên chê cười nên đã trốn ở cung trăng, trở thành chủ nhân của mặt trăng. Thường Nga tiến vào cung Quảng Hàn 广寒 thành Nguyệt Thần, xưng là Nguyệt Quang Nương Nương月光娘娘.
         

Từ đó về sau, Nguyệt thần được thờ cúng trong dân gian tương đối phổ biến. Trung Quốc xem Thường Nga là Nguyệt thần, đại biểu cho cái đẹp, thiện lương cùng với những tính cách ưu mĩ đủ để đại biểu cho nữ tính.
         

Trong truyền thuyết dân gian về mặt trăng có Nguyệt Quang Bồ Tát月光菩萨, quản về việc hôn nhân tốt đẹp và phu thê đoàn viên. Lại có truyền thuyết Nguyệt thần thường hoá thành Nguyệt Hoa 月华, giáng lâm đến nhân gian, người gặp được, chỉ cần đến trước thành tâm bái cầu, lập tức có thể được phúc lộc. Nam nữ thời cổ ở Trung Quốc khi yêu nhau thường thề hẹn dưới trăng, bái cầu Nguyệt thần. Những người yêu nhau mà bị xa cách cũng bái cầu Nguyệt thần gởi gắm tâm tư, cầu xin được đoàn viên. Những người con trai đơn phương tương tư, thành tâm cầu bái Nguyệt Quang Bồ Tát, có thể sẽ được nhân duyên mĩ mãn; nếu nhân duyên có trắc trở, cầu xin Nguyệt Quang Bồ Tát chứng kiến và phân tích, cầu được công bằng. Phong tục bái trăng, bao hàm những tình cảm tốt đẹp, những nguyện vọng tốt đẹp, những truy cầu tốt đẹp.
         

Để có được một tình yêu đẹp, việc cầu khấn Nguyệt thần trong một số lớn tác phẩm văn học đâu đâu cũng có. Đại hí kịch gia đời Nguyên Quan Hán Khanh 关汉卿 từng viết vở Bái nguyệt đình 拜月亭. Thôi Oanh Oanh 崔莺莺trong Tây sương kí 西厢记cũng chân thành thổ lộ tâm tình với Nguyệt thần hi vọng gặp được ý trung nhân. Ở hồi thứ 18 trong tác phẩm Tục Kim Bình Mai 续金瓶梅 của Đinh Diệu Kháng 丁耀亢đời Thanh có đôi si nam oán nữ Trịnh Ngọc Khanh 郑玉卿 và Ngân Bình 银瓶 sau khi lén ăn qua trái cấm, mở cửa cùng quỳ bái lạy Nguyệt thần thề rằng:
          Trong hai người nếu có một người phụ bạc sẽ chết dưới muôn ngàn đao kiếm.
          Điều thú vị là, một số nam nữ đơn phương tương tư cũng xin Nguyệt thần phân xử hoặc bày tỏ nỗi lòng.
         

Nhiều dân tộc thiểu số ở Trung Quốc cũng thịnh hành phong tục bái nguyệt. Như Miêu tộc 苗族 có hoạt động “khiêu nguyệt” 跳月, nam nữ thanh niên khi “khiêu nguyệt”, tìm kiếm người hợp với mình thổ lộ tình cảm vĩnh kết đồng tâm.
         

Thời Minh Thanh, hình tượng Nguyệt thần phát sinh sự biến hoá trọng yếu, lấy đồ cảnh nguyệt cung với Thường Nga mang sắc thái Đạo giáo của thời kì đầu làm chính, diễn biến thành hình tượng thế tục dung hợp đạo Phật với Nguyệt Quang Bồ Tát tồn tại cùng thỏ ngọc giã thuốc. Thời kì này, mọi người thờ cúng hình vẽ Nguyệt Quang Bồ Tát trên giấy, cũng gọi là Nguyệt Quang Mã Nhi 月光马儿, Nguyệt Cung Mã 月宫马. Phú Sát Đôn Sùng 富察敦崇đời Thanh có miêu thuật tỉ mỉ Nguyệt Quang Mã trong Yên Kinh tuế thời kí 燕京岁时记.
         

Ngày rằm tháng 8 Trung Thu là sinh nhật của Nguyệt thần, cho nên mỗi khi đến đêm Trung Thu, mọi người đều tế bái Nguyệt thần. Trăng tròn treo trên không, ánh sáng trải khắp mặt đất, nhà nhà đều đặt hương án trong sân, bày ra bánh và trái cây hợp mùa, hoa tươi, thắp lên đèn hương, phụ nữ và trẻ con hướng đến mặt trăng tế bái. Trong dân gian lưu truyền câu: “nam bất bái nguyệt” 男不拜月, cho nên bái nguyệt trở thành việc riêng của phụ nữ, chủ nhà phụ nữ bận rộn việc tế bái.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 06/01/2020

Nguồn
HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT – NGUYỆT QUANG BỒ TÁT
喜神传说 - 月光菩萨
Trong quyển
ĐỒ THUYẾT HỈ VĂN HOÁ
图说喜文化
Tác giả: Ân Vĩ 殷伟, Trình Kiến Cường 程建强
Bắc Kinh: Thanh Hoa đại học xuất bản xã, 2013
 

Chia sẻ:
Ý kiến khách hàng