TƯ TƯỞNG ĐẠO GIA
Bài viết được sưu tầm trên internet

Hình ảnh minh họa về tư tưởng đạo gia
ĐẠO ĐỨC KINH
Đạo Đức Kinh là quyển sách do Đức Lão Tử viết ra, truyền lại cho ông Doãn Hỷ, trong lúc ông Doãn Hỷ đang làm quan Doãn giữ ải Hàm Cốc, dặn Doãn Hỷ cứ tu theo đó thì đắc đạo. Do đó, Đạo Đức Kinh còn được gọi là sách Lão Tử.
Đạo Đức Kinh gồm có 81 chương, chia làm 2 phần: Thượng Kinh và Hạ Kinh.
■ Thượng Kinh gồm 37 chương, bắt đầu bằng câu: Đạo khả Đạo phi thường Đạo. Thượng Kinh luận về chữ Đạo nên được gọi là Đạo Kinh.
■ Hạ Kinh gồm 44 chương, bắt đầu bằng câu: Thượng Đức bất Đức thị dĩ hữu Đức. Hạ Kinh luận về chữ Đức nên được gọi là Đức Kinh.
Lời lẽ trong Đạo Đức Kinh rất khúc chiết, ý nghĩa rất uyên thâm, luận về hai chữ Đạo Đức, nói về cơ Tạo Hóa, định vị Trời Đất, hóa sanh vạn vật, và những phương pháp huyền bí dạy về tu luyện để đắc thành bậc Thiên Tiên.
Đây là quyển Kinh căn bản của Tiên Giáo do Đức Lão Tử viết ra và chính Ngài là Giáo Chủ Tiên giáo.
Quan niệm về Vũ trụ và nhân sinh của Đức Lão Tử căn cứ trên hai chữ Đạo và Đức, nên Ngài theo đó mà lập thành giáo lý của Ngài.
1. Bàn về chữ Đạo:
Trong chương mở đầu phần Thượng Kinh, Đức Lão Tử bàn về chữ Đạo:
Đạo khả Đạo phi thường Đạo,
Danh khả Danh phi thường Danh.
Vô Danh Thiên Địa chi thủy,
Hữu danh vạn vật chi mẫu.
Nghĩa là: Đạo nói được không phải là Đạo thường,
Danh gọi được không phải là Danh thường.
Vô Danh (không tên) là đầu của Trời Đất,
Hữu Danh (có tên) là mẹ của muôn vật.
Chữ thường ở đây có nghĩa là mãi mãi, luôn luôn , bất biến, dù mọi vật biến đổi nhưng tự nó không đổi. Vậy chữ thường mà Đức Lão Tử dùng để chỉ cái gì luôn luôn là thế, tức là xem nó là qui tắc.
Đạo là vô danh, nên nó không thể chứa đựng ngôn ngữ, nhưng khi ta muốn nói tới nó , ta phải mượn ngôn ngữ nên gọi là Đạo. Đạo là cái mà bất cứ vật gì và tất cả mọi vật đều do đó mà sanh ra. Bởi nó luôn luôn có trong mọi vật nên Đạo luôn luôn hiện hữu. Nó là cái bắt đầu của mọi cái bắt đầu.
Đức Lão Tử nói về Lý Âm Dương: Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Nghĩa là: Đạo sanh một, một sanh hai, hai sanh ba, ba sanh vạn vật.
Vạn vật giai phụ Âm bảo Dương, xung khí dĩ vi hòa. Nghĩa là: Muôn vật đều cõng một Âm và bồng một Dương, nhân chỗ xung nhau mà hòa nhau.
2. Bàn về chữ Đức:
Đức Lão Tử nói: Đạo sinh chi, Đức xúc chi, vật hình chi, thế thành chi. Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn Đạo nhi quí Đức. Đạo chi tôn, Đức chi quí, phù mạc chi mệnh nhi thường tự nhiên. Cố Đạo sinh chi, Đức xúc chi, trưởng chi, dục chi, đình chi, độc chi, dưỡng chi, phúc chi.
Nghĩa là: Đạo sinh ra nó (vạn vật), Đức chứa đựng nó, rồi thì vật chất khiến nó thành hình, hoàn cảnh khiến nó thành vật. Vì thế, muôn vật đều phải tôn Đạo mà quí Đức. Đạo được tôn, Đức được quí, không có cái gì sai khiến mà vẫn tự nhiên như thế. Cho nên, Đạo sinh ra nó, Đức súc tích nó, làm cho nó lớn, làm cho nó sống, làm cho nó hiện ra hình, làm cho thành ra chất, và nuôi nấng che chở nó.
Xem như thế thì Đạo sinh ra và Đức nuôi dưỡng.
Đạo như là khối gỗ chưa đẽo gọt, tức là giản dị. Không có gì giản dị hơn cái Đạo vô danh. Đức là cái gì giản dị sau Đạo, và người theo Đức thì phải sống cuộc đời càng giản dị càng hay. Người có cuộc sống hợp với Đức thì phải ở ngoài vòng phân biệt tốt xấu, thiện ác. Lão Tử nói: Nếu thiên hạ biết được đẹp là đẹp thì ấy là có xấu, biết thiện là thiện ấy là có bất thiện. (Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ, tư ác dĩ; giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ.)
Vì vậy, Đức Lão Tử cho cái Nhân và Nghĩa của Nho gia là những đức tánh làm suy đồi Đạo và Đức. Do đó, Lão Tử nói: Mất Đạo mới có Đức, mất Đức mới có Nhân, mất Nhân mới có Nghĩa, mất Nghĩa mới có Lễ. Lễ là suy đồi của Trung Tín, bước đầu của rối loạn. (Cố thất Đạo nhi hậu Đức, thất Đức nhi hậu Nhân, thất Nhân nhi hậu Nghĩa, thất Nghĩa nhi hậu Lễ. Phù Lễ giả Trung Tín chi bạc, nhi loạn chi thủ;).
Người ta để mất cái Đức nguyên thủy là vì có quá nhiều ham muốn và hiểu biết. Thỏa mãn ham muốn tức là tìm hạnh phúc, nhưng khi cố tìm cách thỏa mãn quá nhiều ham muốn thì ta chỉ đạt kết quả trái lại. Lão Tử nhấn mạnh đến quả dục (ít muốn) nên nói: Chẳng có họa nào lớn hơn là không biết đủ, chẳng có lỗi nào lớn hơn là muốn được.
3. Chủ nghĩa Vô Vi:
Vô Vi là không làm, tức là để cho tự nhiên diễn tiến.
Đức Lão Tử thấy cái tự nhiên bao giờ cũng có lợi chứ không có hại. Đã thế thì cứ phó mặc cho tự nhiên làm việc. Nhúng tay vào guồng máy thiên nhiên thì không khỏi mang họa vào mình.
Bởi vậy, Lão Tử cho Vô Vi là chủ nghĩa rất hợp với lẽ tự nhiên, vừa là chủ nghĩa vạn năng. Lão Tử đem nó ứng dụng vào tất cả các việc trong đời, từ việc nhỏ như tu thân, xử sự hằng ngày, cho đến việc lớn như lo hạnh phúc cho xã hội.
Chữ Vô trong Vô Vi không có nghĩa tuyệt đối, nên chủ nghĩa Vô Vi cũng không phải là không hành động mảy may.
Lão Tử nói: "Đạo thường không làm", nghĩa là thuận với lẽ tự nhiên, nhưng không cái gì mà nó không làm. (Đạo thường Vô Vi nhi vô bất vi). Vì sao thế?
Trong Trời Đất, cái gì cũng có nguyên nhân. Có sống mới có chết, có làm mới có thất bại, có cạnh tranh mới có người tranh cạnh với mình. Muốn được bình yên vô sự thì đừng cạnh tranh, mình không tranh thì thiên hạ không ai cạnh tranh với mình. (Phù duy bất tranh, cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh.)
Vậy muốn khỏi thất bại và muốn tránh những di hại do nó mà ra, người ta phải trừ cái nguyên nhân của nó.
Nguyên nhân của sự thất bại là gì?
Đức Lão Tử cho nó là "Có làm" (Hữu vi). Lão Tử nói: Người có làm tất có thất bại, người muốn cầm giữ tất bị mất. Cho nên Thánh nhân không làm việc gì nên không bại, không giữ cái gì nên không mất. Người thường làm việc, thường khi gần thành thì thất bại. (Vi giả bại chi, chấp giả thất chi. Thị dĩ Thánh nhân vô vi cố vô bại, vô chấp cố vô thất. Dân chi tòng sự, thường ư cơ thành nhi bại chi).
Chủ nghĩa Vô Vi làm thế nào mà trừ được những nguyên nhân sanh ra những điều có hại?
Người đời thường hay khinh suất, coi thường những việc nhỏ mọn dễ dàng, đến lúc những cái nhỏ mọn đã thành ra những nguyên nhân to lớn, những cái dễ dàng đã thành ra những nguyên nhân khó khăn mới làm, thì lúc bấy giờ không thể làm được nữa.
Chủ nghĩa Vô Vi cốt diệt những nguyên nhân tai hại từ khi nó chưa phát hiện. Lão Tử nói: Làm cách Vô Vi, thờ cái Vô Sự, mến cái Vô Vị. Lớn nhỏ nhiều ít đều lấy Đức báo lại thù oán. Lo việc khó từ khi còn dễ, làm việc lớn từ khi còn nhỏ. Việc khó trong thiên hạ tất phải làm từ khi còn dễ, việc lớn trong thiên hạ tất phải làm từ khi còn nhỏ. Vì vậy, Thánh nhân không bao giờ làm việc lớn nào mà có thể thành được việc lớn. Vâng nhận một cách khinh suất tất nhiên ít được đúng lời, coi là dễ bao nhiêu thì càng khó khăn bấy nhiêu. Vì vậy Thánh nhân thường lấy làm khó mà chung qui không có việc gì khó. (Vi Vô Vi, Sự Vô Sự, Vị Vô Vị. Đại tiểu đa thiểu báo oán dĩ đức. Đồ nan ư kỳ dị, vi đại ư kỳ tế. Thiên hạ nan sự tất tác ư dị, thiên hạ đại sự tất tác ư tế. Thị dĩ Thánh nhân chung bất vi đại, cố năng thành kỳ đại. Phù khinh nặc tất quả tín, đa dị tất đa nan. Thị dĩ Thánh nhân do nan chi, cố chung vô nan kỳ.)
Bổn ý của Đức Lão Tử không phải ngồi khoanh tay mà nhìn. Ngài cũng muốn lo việc thiên hạ, nhưng lo hẳn bằng cách trừ những cái mầm hại trước khi nó xảy ra.
Vì vậy chủ nghĩa Vô Vi không phải là không làm, không trị, nhưng phải làm từ lúc chưa có việc gì xảy ra, trị lúc chưa loạn. (Vi chi ư vị hữu, trị chi ư vị loạn).
4. Bàn về việc Chính trị:
Đức Lão Tử cho rằng quốc gia lý tưởng là quốc gia được một Thánh nhân cai trị. Điều nầy đồng quan điểm với Nho gia, nhưng Nho gia lại nói rằng: Khi lên cầm quyền, Thánh nhân phải làm nhiều việc cho dân.
Còn Lão Tử thì nói trái lại: Bổn phận của Thánh vương không phải làm việc mà phải không làm gì cả (Vô Vi) vì những việc rối loạn xảy ra trong đời nầy không phải vì nhiều việc chưa được làm, mà vì quá nhiều việc đã được làm.
Lão Tử nói rõ: Dân có nhiều ngày kỵ húy thì dân nghèo, dân có nhiều khí giới thì nước loạn. Nhiều người tài khéo thì vật giả mạo càng thêm, pháp lệnh càng tăng thì trộm cướp càng nhiều. Hành động đầu tiên của Thánh vương là bãi bỏ hết những điều ấy.
Lão Tử nói thêm: Dứt Thánh bỏ trí, dân lợi gấp trăm; dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại hiếu từ; dứt khéo bỏ lợi, trộm cướp chẳng còn. Không chuộng người hiền, khiến dân không tranh; không trọng vật quí hiếm khiến dân không trộm cướp; không thấy vật đáng ham khiến lòng dân không loạn. (Tuyệt Thánh khí trí, dân lợi bách bội; tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ; tuyệt xảo khí lợi, đạo tặc vô hữu; bất thượng hiền, sử dân bất tranh; bất quí nan đắc chi vật, sử dân bất vị đạo; bất kiến khả dục,sử dân tâm bất loạn)
Cho nên, lối trị dân của Thánh vương là làm cho lòng trống bụng no, yếu chí, mạnh xương, thường khiến dân không biết ham muốn, để những kẻ có biết cũng không dám làm. (Thánh nhân chi trị, hư kỳ tâm, thực kỳ phúc, nhược kỳ chí, cường kỳ cốt. Thường sử dân vô tri vô dục, sử tri giả bất cảm vi giả.)
Thánh vương sẽ diệt mọi nguyên nhân rối loạn trong đời, sau đó sẽ trị vì bằng chủ nghĩa Vô Vi. Vô Vi là không làm gì nhưng mọi việc đều thành.
Đức Lão Tử nói: Ta không làm mà dân tự hay, ta thích yên mà dân tự chánh, ta vô sự mà dân tự giàu, ta không muốn mà dân tự phác.
Không làm (Vô Vi) mà không có gì chẳng làm được. Đó là một tư tưởng đặc biệt của Lão Tử, nó có vẻ như mâu thuẫn, nghịch lý, nhưng theo các Đạo gia, vị cầm quyền quốc gia phải bắt chước theo Đạo. Nhà cầm quyền không làm gì, mà để cho mọi người dân làm điều gì mà mỗi người có thể làm.
Từ luận lý đó, Đức Lão Tử nói thêm: Thánh vương không làm cho dân sáng mà làm cho dân ngu.
Chữ ngu ở đây có nghĩa đặc biệt như: Đại trí nhược ngu. Cái ngu của bực Thánh nhân là đại trí; cái ngu của dân ở đây là không tham vọng, sống giản dị tự nhiên.
Có 2 bản dịch ra tiếng Việt phổ biến bởi Nguyễn Hiến Lê và Nguyễn Duy Cần. Ngoài ra còn có một bản dịch song ngữ Anh-Việt của dịch giả Vũ Thế Ngọc, căn cứ trên cổ bản Mã Vương Đôi với câu mở đầu: "Đạo khả đạo dã phi hẳng đạo dã, danh khả danh dã phi hằng danh dã". Gần đây có thêm bản dịch của Phạm Kim Khải rất thú vị với phần minh họa bằng hình vẽ, mọi người chú ý tìm đọc.
SƠ LƯỢC VỀ ĐẠO GIÁO
I.- TỔNG QUÁT :-
Đạo giáo (tiếng Trung: 道教;), Giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của xứ này. Nguồn gốc lịch sử được xác nhận của Đạo giáo được xem nằm ở thế kỉ thứ 4 trước CN, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện. Các tên gọi khác là Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia (道家;).
Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá dân tộc Trung Quốc. Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả ba giáo lí này đã hoà hợp thành một truyền thống. Ảnh hưởng Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Quốc, được truyền đến các nước Đông Nam Á lân cận như Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ thuật và địa lí.
Vì xuất hiện dưới nhiều trạng thái khác biệt và sự khó phân ranh rõ ràng với những tôn giáo khác nên người ta không nắm được số người theo Đạo giáo. Đặc biệt có nhiều người theo Đạo giáo sinh sống tại Đài Loan, nơi nhiều trường phái Đạo gia đã lánh nạn Cách mạng văn hoá tại Trung Quốc lục địa.
II.- XUẤT XỨ :-
Người ta không biết rõ Đạo giáo khởi phát lúc nào, chỉ thấy được là tôn giáo này hình thành qua một quá trình dài, thâu nhập nhiều trào lưu thượng cổ khác. Đạo giáo thâu nhiếp nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời nhà Chu (周朝, 1040-256 trước CN). Thuộc về những tư tưởng này là vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành (五行;), thuyết về năng lượng, chân khí (氣;), thuyết âm dương (陰陽;) và Kinh Dịch (易經;). Nhưng, ngoài chúng ra, những truyền thống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở, Thái cực quyền, Khí công, Thiền định, thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện kim (煉金術;) và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử. Việc tu luyện đạt trường sinh có bắt nguồn có lẽ từ những khái niệm rất cổ xưa, bởi vì trong Trang Tử Nam Hoa chân kinh, một tác phẩm trứ danh của Đạo giáo thế kỉ thứ 4 trước CN thì các vị tiên trường sinh bất tử đã được nhắc đến, và đại diện tiêu biểu cho họ chính là Hoàng Đế (黃帝, (Vị đế thời thượng cổ tên là Hoàng, xin đừng nhầm với tước vị hoàng đế;) và bà Tây Trì Vương mẫu (西王母;), những hình tượng đã có trong thời nhà Thương (商朝;), thiên niên kỉ thứ hai trước CN.
1/- Lão Tử và Đạo Đức kinh :-
Các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được là đã thật có một triết gia tên Lão Tử hay không. Các Đạo gia cho rằng, chính ông là tác giả của bộ Đạo Đức kinh. Tiểu sử của ông bị huyền thoại vây phủ và vì vậy gây nhiều tranh luận trong giới học thuật. Tương truyền ông sống thời Chiến Quốc, thế kỉ thứ 6 trước CN, một thời kì được đánh dấu bằng chiến tranh và loạn li. Nhưng thời này cũng được xem là thời vàng son của triết học Trung Quốc vì nhiều nhà tư tưởng đã tìm cách giải hoá vấn đề làm sao để an dân lập quốc. Do đó mà người sau cũng gọi thời kì này là thời của Bách gia chư tử—"hàng trăm trường phái". Đạo Đức kinh hàm dung những tư tưởng này, hướng đến những nhà cầm quyền và cách tạo hoà bình.
Đạo Đức kinh cũng được gọi dưới tên của tác giả, là Lão Tử. Trong dạng được truyền ngày nay thì nó bao gồm hai quyển với tổng cộng 81 chương. Phần thứ nhất nói về Đạo, phần hai nói về Đức. Tuy nhiên, Đạo Đức kinh không là một bộ kinh có một kết cấu lôgic của một thế giới quan, mà chỉ là một tập hợp của những ngạn ngữ huyền bí, tối nghĩa, dường như nó muốn người đọc phải tự lí giải một cách chủ quan. Chính vì vậy mà người ta tìm thấy hàng trăm bản chú giải, hàng trăm bản dịch của bộ Đạo Đức kinh này.
2/- Trang Tử và Nam Hoa chân kinh:-
Bộ Trang Tử Nam Hoa chân kinh thì được viết với một phong cách hoàn toàn khác. Tác phẩm này được biên soạn ở thế kỉ thứ 4 trước CN và tương truyền tác giả là Trang Tử (vì vậy mà tên ngắn của tác phẩm này cũng là Trang Tử, tên tác giả;). Trong Nam Hoa kinh, thể tính của Đạo được miêu hoạ qua những ngụ ngôn, những mẩu chuyện hàm dung những cuộc đàm thoại triết học. Trang Tử lấy nhiều điểm được nhắc đến trong Đạo Đức kinh làm chủ đề, nhưng lại bài bác những điểm khác một cách rõ ràng. Ví dụ như Trang Tử không hề nhắc đến việc nhắc nhở những nhà cầm quyền an quốc trị dân. Một chân nhân vô sự, lìa thế gian là người lí tưởng trong tác phẩm này. Như trường hợp Đạo Đức kinh, việc xác nhận tác giả của tác phẩm này cũng là một điểm tranh luận lớn. Mặc dù Trang Tử được xem là một nhân vật lịch sử nhưng theo những nhà nghiên cứu sau này thì tác phẩm Nam Hoa chân kinh phần lớn có lẽ được các đệ tử sau này biên tập.
Trong thời Lão Trang, người ta không thấy dấu tích của một tổ chức hay cơ cấu triết học hoặc tôn giáo nào có thể được gọi là Đạo giáo. Chỉ còn một vài tác phẩm hàm dung tư tưởng Đạo giáo được lưu lại, tôn vinh là Thánh điển khi Đạo giáo dần dần hình thành. Tuy nhiên, tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau là những tác phẩm này đã được phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ với những phương pháp tu tập tôn giáo và tín ngưỡng. III.- ĐẠO GIÁO NHƯ MỘT HỆ THỐNG TRIẾT HỌC :-
1/- Triết Học Đạo giáo so với tín ngưỡng Đạo giáo :-
Sự phân biệt triết học Đạo giáo và tín ngưỡng Đạo giáo là một cách nhìn từ phương Tây và về mặt khái niệm thì nó cũng không đủ rõ ràng. Nó có vẻ như là một phương tiện của nền Hán học châu Âu, được áp dụng để có thể nắm bắt và miêu tả được những khía cạnh lịch sử Đạo giáo lâu dài một cách dễ dàng hơn. Nhìn kĩ thì người Trung Quốc cũng đã có sự phân biệt vi tế trong cách gọi tên trào lưu này. Khi dùng từ Lão Trang (老莊;) hoặc Đạo gia (道家;) người ta liên tưởng đến khía cạnh triết học và từ Đạo giáo (道教;) hoặc Hoàng Lão (黃老;) được dùng để chỉ đến khía cạnh tín ngưỡng tôn giáo. Tuy vậy, Đạo giáo cũng là một hiện tượng nhiều khía cạnh như những tôn giáo khác. Trong dòng thời gian hơn hai nghìn năm qua, nhiều hệ thống và chi phái rất khác nhau đã được hình thành. Do vậy mà sự phân biệt giữa triết học và tôn giáo ở đây là một sự giản hoá quá mức và trong giới học thuật người ta cũng không nhất trí có nên phân biệt như vậy nữa hay không, bởi vì nó không tương thích với sự phức tạp của đối tượng nghiên cứu.
Mặc dù vậy, hai khái niệm đối xứng bên trên cũng mang đến một ích lợi nhất định vì chúng hỗ trợ bước đầu phân tích Đạo giáo. Nhưng ta nên nhớ là sự việc phức tạp hơn là sự phân biệt đơn giản trên có thể lột toát được hết.
2/- Khái niệm Đạo :-
Tên Đạo giáo xuất phát từ chữ Đạo, một danh từ triết học Trung Hoa đã được dùng rất lâu trước khi bộ Đạo Đức kinh xuất hiện, nhưng chỉ đạt được tầm quan trọng đặc biệt, phổ cập trong văn bản này. Đạo ban đầu có nghĩa là "con đường", những ngay trong tiếng Hán cổ đã có nghĩa "phương tiện", "nguyên lí", "con đường chân chính". Nơi Lão Tử, danh từ này được hiểu như một nguyên lí cơ sở của thế gian, xuyên suốt vạn vật. Theo kinh văn, Đạo là hiện thật tối cao, là sự huyền bí tuyệt đỉnh (chương IV):-
道沖,而用之或不盈 。淵兮,似萬物之宗
(Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh. Uyên hề, tự vạn vật chi tông.)
*Nghĩa:- Đạo trống không, nhưng đổ vào mãi mà không đầy. Đạo sâu thẳm, dường như là tổ tông của vạn vật.
*Đạo là đơn vị tối sơ, nguyên lí của vũ trụ và là cái tuyệt đối. Vạn vật xuất phát từ Đạo, nghĩa là cả vũ trụ và như vậy, trật tự vũ trụ cũng từ Đạo mà ra, tương tự như nguyên tắc tự nhiên, nhưng Đạo lại chẳng phải là một nhân vật toàn năng, mà là nguồn gốc và sự dung hoà tất cả những cặp đối đãi và như thế, không thể định nghĩa được. Đạo là Vô danh, như câu đầu của bộ kinh này cho thấy:-
道可道,非常道 。名可名,非常名 。
無名天地之始,有名萬物之母 。
(Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh.
Vô danh thiên địa chi thuỷ, hữu danh vạn vật chi mẫu. )
*Nghĩa:- Đạo mà ta có thể nói đến được, không phải là Đạo thường còn. Danh mà ta có thể gọi được, không phải là Danh thật sự.
Vô danh là gốc của thiên địa, hữu danh là mẹ của vạn vật.
*Về mặt triết học thì Đạo có thể được xem là siêu việt mọi khái niệm vì nó là cơ sở của tồn tại, là nguyên nhân siêu việt và như vậy, là tất cả, bao gồm tồn tại và phi tồn tại. Trên cơ sở này thì ta không thể luận đàm, định nghĩa được Đạo vì mỗi định nghĩa đều có bản chất hạn chế. Nhưng Đạo lại là cả hai, là sự siêu việt mọi hạn lượng mà cũng là nguyên lí bên trong trong vũ trụ. Cái Dụng (用;) của Đạo tạo ra âm dương, nhị nguyên, những cặp đối đãi và từ sự biến hoá, chuyển động của âm dương mà phát sinh thế giới thiên hình vạn trạng. IV.- ĐẠO GIÁO NHƯ MỘT TÔN GIÁO :-
Sự khác biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo - được dùng ở đây vì những nguyên nhân thực tiễn - có thể được hiểu như sau: Đạo giáo triết học theo lí tưởng của một Thánh nhân, thực hiện Đạo bằng cách gìn giữ một tâm thức nhất định, trong khi Đạo giáo tôn giáo tìm cách đạt Đạo qua việc ứng dụng những phương pháp như Tĩnh toạ (Khí công, Thái cực quyền), sự tập trung cao độ, thiết tưởng (visualization), hình dung, thuật luyện kim, nghi lễ và huyền học để tạo một thế giới vi quan từ thân tâm - một ánh tượng của đại vũ trụ - và qua đó đạt được sự hợp nhất với vũ trụ.
Thời điểm đầu tiên được xác nhận của Đạo giáo như một tôn giáo là năm 215, khi Tào Tháo (曹操;) chính thức công nhận trào lưu Thiên sư đạo như một tổ chức tôn giáo.
Nhiều trường phái Đạo giáo tìm cách tu tập đạt trường sinh bất tử. Chúng có lẽ xuất phát từ các phép tu thuộc Tát-mãn giáo (zh. 薩滿教, en. shamanism) và sự sùng bái trường sinh bất tử và được hoà nhập với nhánh Đạo giáo triết học sau này.
Tất cả các trường phái Đạo giáo đều nỗ lực tu tập để trở về nguồn, được miêu tả bằng những thuật ngữ Đạo giáo như .........
1/- Quan hệ với Phật giáo :-
Phật giáo đến Trung Hoa trong thế kỉ thứ nhất sau CN, trong một thời đoạn mà giới tri thức ở đây khát khao tiếp nhận, nhưng lại mang theo những điểm khó dung hoà. Với tư cách của một tôn giáo đề cao sự giải thoát một cách khắt khe, Phật giáo chủ trương triết học siêu hình và nhận thức học (sa. pramāṇa, en. epistemology, xem thêm Lượng) với những điểm trung tâm là chân lí (sa. satya), kinh nghiệm bản thân, kiến thức cần có trước, một tín tâm được thể hiện rõ ràng, một cơ sở tâm lí học chuyên chú đến niềm tin đặt nền tảng trên lí giải (sa. hetu, en. reasoning) như một khả năng tự nhiên của loài người - và dĩ nhiên, một tấm lòng tin tưởng. Những điểm này không thu hút được giới tri thức Trung Hoa và cơ sở luận bàn duy nhất có thể "thuần hoá" hệ thống ngoại lai này là huyền học (玄學;) được các Tân Đạo gia (sau thế kỉ thứ 2) đề xướng. Huyền học chuyên chú vào ý nghĩa siêu hình của tồn tại và phi tồn tại (hữu vô;), và hệ thống này lại tương quan mật thiết với khái niệm Niết-bàn trong Phật giáo. Nếu Niết-bàn đối lập Luân hồi thì nó là một trạng thái phi tồn tại hay tồn tại? Niết-bàn là thành tựu tối cao của một vị Phật, là biểu thị của Phật tính.
Tuy nhiên, Phật giáo được trang bị với một nghịch thuyết (paradox) rất có thể đã gây cảm hứng đến các Đạo gia, đó là sự nghịch lí của lòng tham ái (sa. tṛṣṇā;). Luân hồi - hay nói cụ thể hơn - sự tái sinh làm người được xem như là kết quả của tham ái và Niết-bàn chỉ có thể được thực hiện khi hành giả đã buông xả tham ái. Nhưng như vậy có nghĩa là, để thành tựu Niết-bàn, hành giả cũng phải lìa bỏ lòng ham muốn thành tựu nó. Cách lập luận này cho thấy ý nghĩa tinh tế của hình tượng tiêu biểu trong Phật giáo Đại thừa là Bồ Tát, một người đã đạt những điều kiện tiên quyết để chứng ngộ Niết-bàn, nhưng vẫn lưu lại Luân hồi để cứu độ chúng sinh. Nhánh Đại thừa của Phật giáo được phổ biến rất thành công tại Trung Hoa vì giáo lí của trường phái này - mặc dù chỉ được thể hiện một cách ám thị - hàm dung một cái nhìn bình đẳng: Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, tương tự trường hợp ai cũng có thể thành một Đạo gia hoặc một Nho gia.
Nhánh triết học Phật giáo gây ảnh hưởng lớn nhất tại Trung Hoa là Trung quán tông (sa. mādhyamika), giải đáp vấn đề bản chất của Niết-bàn hoặc Phật tính bằng cách không giải đáp. Niết-bàn được thực hiện bằng một loại trí huệ đặc biệt, bất khả thuyết, bất khả tư nghị (Bát-nhã, Bát-nhã-ba-la-mật-đa). Và đây cũng là điểm thúc đẩy sự hoà nhập của khái niệm Đạo và Niết-bàn cũng như sự kết luận "Niết-bàn và Đạo là một".
Hai trường phái Phật giáo quan trọng với vũ trụ quan có điểm tương đồng với Tân Đạo gia là Thiên Thai tông và Hoa Nghiêm tông. Thiên Thai tông chủ trương "một niệm phát sinh tam thiên đại thiên thế giới xuất hiện" (一念三千;) và Hoa Nghiêm tông nhấn mạnh đến khía cạnh "Lí sự vô ngại" và "Sự sự vô ngại". Sự tương tác, xuyên suốt của vạn vật chính là sự thể hiện của Phật tính.
Tông phái có nhiều điểm tương đồng với Đạo giáo nhất là Thiền tông. Thành phần Đạo giáo của Thiền có thể được hiểu rõ hơn khi tham chiếu lại nghịch lí "tham ái". Lão tử nói: Ai thường không có ham muốn (dục) thì thấy được cái huyền diệu (của Đạo), ai ham muốn thì chỉ thấy những cái nhỏ nhặt (故常無欲以觀其妙常有欲以觀其徼, Đạo Đức kinh I). Nếu hành giả Phật giáo lìa bỏ tham ái để đạt Niết-bàn thì phải quên cả hai, Niết-bàn và Luân hồi. Và sự kiện này lại tương ưng câu giải đáp bí ẩn dành cho bản chất Niết-bàn cũng như nhấn mạnh lần nữa sự đề cao cách thực hành của Thiền tông "ngay lúc này, ngay đây", sự trực nhận "tất cả chúng sinh bản lai là Phật".
Việc từ khước lí thuyết Phật giáo của các Đạo gia được tiếp nối bởi một đặc điểm khác: Nhấn mạnh sự hấp thụ hoàn toàn vào thực hành trên một cấp bậc cao. Thiền tông Trung Hoa lập cơ sở chủ yếu trên quan điểm Đốn ngộ, nghĩa là "giác ngộ ngay lập tức", và như thế, Thiền tông phản bác tất cả những quá trình tu tập: "Bạn không thể đến gần hơn - chính vì Bạn đang ở ngay trong Đạo".
Điểm tương đồng giữa Đạo giáo và Thiền tông được minh hoạ rất hay trong Công án thứ 19 của tác phẩm Vô môn quan và Triệu Châu Chân Tế Thiền sư ngữ lục. Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm hỏi Nam Tuyền Phổ Nguyện:
Sư hỏi Nam Tuyền: "Thế nào là Đạo?"
Nam Tuyền đáp: "Tâm bình thường là Đạo."
Sư hỏi: "Có thể hướng đến được không?"
Nam Tuyền đáp: "Nghĩ tìm đến là trái."
Sư lại hỏi: "Chẳng nghĩ suy thì làm sao biết Đạo?"
Nam Tuyền đáp: "Đạo chẳng thuộc về hiểu biết hay không hiểu biết. Biết là vọng giác (khái niệm), không biết là vô kí (vô minh). Nếu thật đạt Đạo thì không còn nghi ngờ, [Đạo] như hư không thênh thang rộng rãi, đâu thể cưỡng nói là phải là quấy."
Sư nhân nghe lời này lập tức ngộ được huyền chỉ, tâm sư sáng như trăng tròn.
2/- Thiên Sư Đạo :-
a/- Trương Đạo Lăng :-
Tổ chức Đạo giáo đầu tiên xuất hiện trong thế kỉ thứ hai sau CN, khi Trương Đạo Lăng (張道陵;) khởi xướng phong trào Thiên sư đạo (天師道;) tại tỉnh Tứ Xuyên năm 142. Có lẽ Trương Đạo Lăng đã bắt chước theo Phật giáo và thâu nhiếp các thành phần của Toả-la-á-tư-đức giáo (zh. 瑣羅亞斯德教, en. Zoroastrianism). Trong phái mang tên Ngũ Đẩu Mễ Đạo (五斗米道;) - gọi theo số gạo đồ đệ phải nộp để gia nhập - người ta tìm thấy những yếu tố, tư tưởng cứu thế chủ và cách mạng: Vương triều Hán nên bị lật đổ để Thiên sư Trương Đạo Lăng cai trị và thời đoạn cuối của thế giới bắt đầu.
b/- Ngũ đẩu mễ đạo :- (xem bài chi tiết theo sau)
3/- Đạo Gia Khí Công :-
a/-. Nguồn gốc khí công của các phái đạo gia khí công Trước thời Ðông Hán (58 A.D) :- Bộ môn khí công được chia làm hai loại và phương pháp luyện tập hầu như chưa nhuốm màu sắc tôn giáo như vào những thời đại sau này. Một loại được các môn đồ của Lão giáo và Khổng giáo thường xuyên luyện tập nhằm mục đích dưỡng sinh, bảo tồn sức khỏe; loại khác được sử dụng bởi Y-gia trong việc điều trị dưới những hình thức như châm, cứu, án, ma, kết hợp với nhiều động tác để điều chỉnh, quân bình khí huyết hoặc để chữa trị bệnh tật. Sau này khi Phật-giáo được du nhập vào Trung-quốc, một số những kỹ thuật khí công từng được luyện tập bên Ấn Ðộ cũng bắt đầu được lưu truyền tại Trung-hoa. Ðặc biệt vì vua chúa Hán triều đa số là những Phật tử thuần thành, nên Phật-giáo nghiễm nhiên trở thành một tôn giáo chính, nhờ thế nên các chư tăng đã có cơ hội học hỏi một số phương pháp luyện tâm, định thần. Tuy nhiên vì trở ngại về giao thông và truyền thống nên họ đã không thu thập được toàn bộ các phương pháp nói trên.
Hơn nữa, trong khoảng gần năm thế kỷ Phật-giáo được phổ biến ở Trung-quốc, chỉ có hai vị cao tăng của Phật-giáo Ấn Ðộ được mời sang thuyết giảng về Phật học. Theo sử sách, vị thứ nhất là Pao Jaco (Mỹ-Lệ Phật) và vị thứ nhì là Bồ-Ðề Ðạt-Ma. Tình trạng này đưa đến hậu quả là các tăng ni Trung-quốc hoàn toàn học hỏi, nghiên cứu triết học, giáo lý Phật-giáo qua kinh điển, chứ không được trực tiếp truyền thụ bởi những bậc thầy uyên thâm về kiến thức cũng như về kinh nghiệm tu tập. Nên từ đó những cách thức tu luyện của các giáo sĩ Phật-giáo Trung-quốc đã hoàn toàn khác biệt với giáo sĩ Phật-giáo Ấn-Ðộ. Họ quan niệm rằng phần tâm linh là chính, xác thân là phụ, nên chỉ chú trọng vào việc tôi luyện tinh thần, mà sao lãng phần thể xác. Thêm vào đó, vì chế độ dinh dưỡng thiếu quân bình nên đa số các sư sãi Trung-hoa thời bấy giờ nếu không bệnh hoạn thì cũng yếu kém về thể lực. Tình trạng bi đát này tiếp tục kéo dài mãi cho đến khi Ðạt-Ma sư tổ đặt chân lên đất Trung-hoa vào năm 527 A.D. dưới triều nhà Lương.
Ðạt-Ma sư tổ ra đời v.
---o0o---
KHÔNG CÓ PHÁI VÔ VI
VÀ CŨNG KHÔNG CÓ PHÁI PHỔ ĐỘ
*Tác giả: Chí Tín
* * *
Nhận thấy vẫn còn một số tín hữu Đạo Cao Đài hay thắc mắc, phân vân và chia ra hai Phái Phổ-Độ và Vô Vi, chúng tôi thiết nghĩ cần có một vài phân giải cho minh bạch, nên lấy kinh-nghiệm tu học trải qua hai giai đoạn, từ cơ sở phổ-độ sang tu tịnh Vô vi, để cố gắng trình bày, mong sao cùng chung một Đạo Cao-Đài, một Thầy Chí-Tôn Thượng-Đế đều đạt được cái "TÂM VÔ SAI BIÊT" mà hòa đồng trong tình Huynh Đệ đồng Tông, đồng Đạo, cùng một Cha chung Thượng Đế.
Trước hết chúng tôi xin bàn đến hai chữ VÔ-VI do đức Lão Tử giải thích trong Đạo Đức Kinh mà chúng ta đã thường đọc qua, thông thường hiểu vô-vi là: vô hình,vô ảnh, vô thinh, vô tướng, vô sắc, nhưng thật sự vẫn có, vì ở thế giới nhị-nguyên đối đãi trần gian nầy, giác quan phàm tục không cho phép chúng ta, rờ đụng, nghe, thấy, ngửi được đó thôi, chớ thế giới Thiêng-liêng (vô hình với chúng ta) họ vẫn cảm nhận được dễ dàng.
Cái Đạo vô vi của Trời đất luân chuyển bốn mùa tám tiết, Xuân Hạ, Thu, Đông vẫn xoay vần, hết sáng lại tối, Nhựt Nguyệt, Tinh tú quây quần trong Vũ-trụ thiên không, con người phàm phu làm sao hiểu được cái Lý Vô Vi ấy, mà Đức Lão Tử gượng đặt tên là Đạo vô vi, nhưng không bất vi, thấy như là không có làm gì hết, nhưng mà vẫn có hoạt động điều hòa như chúng ta vừa kể ra. Nên hiểu Đạo Vô vi là như vậy.
Người đời thu hẹp cái Đạo vô-vi của Trời đất vào một cái khung nhỏ hẹp hạn chế ở phương cách tu hành của một số người thích ẩn tu, vì ngao ngán tình đời thế sự đua chen, xảo trá, phản bạn lừa Thầy, giành giựt lợi quyền, chức tước, cho đến đổi trong giới tu hành còn tranh giành chức sắc, ngôi vị, quyền hành thống lãnh và phạm Giới Cấm của Tân-Luật, thì bảo sao không có người ngao-ngán, tìm lánh nơi xa mà lo Chánh kỷ, tu thân tự độ, chớ nào phải là họ chỉ độc thiện kỳ thân, ích kỷ lo tu để thành Tiên, thành Phật mà không lo đi phổ độ, như có người đã hiểu lầm.
Họ có cái lý chánh đáng của họ, vì họ tự xét mình, độ mình chưa xong thì dám đâu đi độ người khác, Phật Tiên vẫn thường dạy: tự độ mới độ tha, giác tha. Thử xét mình chưa biết lội sao dám nhảy xuống sông để vớt người đang chơi vơi giữa dòng sông, không khéo cả hai đều chết chìm, mình học Đạo chưa thông suốt, dám đâu đi giảng Đạo cho người nghe. Hạnh kiểm mình còn bê bối, thì dầu có đi thuyết Đạo và lời lẽ có cao siêu đến đâu cũng khó mà thuyết phục và cảm hóa được người đời. Đừng ngụy biện là, hãy làm theo những lời tôi nói, mà đừng bắt chước những việc tôi làm, như người đời thường mai mỉa....
Khi xưa ngài Ngô-Minh-Chiêu khuyên người tu học theo Ngài, giữ 10 điều khuyên như sau: (trích tr.5,TGST Chiếu Minh) trong đó đáng lưu ý điều khuyên thứ 2 :
"Hai khuyên chánh kỷ cho tròn hóa nhơn"
Và điều khuyên thứ 6 :
"Sáu khuyên đậy mắt lánh miền thị phi"
Đậy mắt để không thấy những điều thị phi, ngang trái để cho tâm không bị xáo trộn, đảo điên, hầu lo "Chánh kỷ" là sửa mình, trau-giồi tâm, hạnh của mình cho được chơn chánh thuần thành, đạo đức, cho tròn vẹn là người hiền hậu, gương mẫu, chừng đó mới đi hóa nhơn, (đi độ dẫn người đời). Ngài khuyên trước tiên phải lo chánh kỷ, lo khắc phục chế ngự cái bản ngã phàm tâm, nó hay chi phối tâm tư của người đi Phổ độ.
Có chánh kỷ được mới tránh được những sự khảo đảo nó đang chực chờ người đi hành Đạo phổ độ, khỏi bị lâm vào mê hồn trận của Tham, Sân, Si, cũng như không bị thối chí ngã lòng mà bán đồ nhi phế.
Trong một đàn cơ tại Minh Đức Tu Viện Vũng Tàu năm Canh Thân (1980) Ngài có tâm tình với một vài vị Thiên ân, tịnh sĩ như sau :
"Thời kỳ Ân xá, Đại Đạo khai minh tại miền Nam đất Việt, thì Tiên Huynh là người được chọn để khởi mầm tiếp nhận Thiên Nhãn, đồng thời Đức Chí Tôn cũng chọn một số người để phóng phát cái trung tâm điểm của Càn khôn, Vũ trụ, vạn vật ra mọi hướng để thành một Đại Đạo Cứu Thế. Sự bắt đầu từ chỗ khởi điểm đến khai minh để hình thành một Thánh Thể, một thực tướng phổ độ nhơn sanh. Đó là một việc làm từ ngàn xưa đã có, nhưng có khác ở chỗ là Đấng Giáo Chủ trong thời kỳ ân xá nầy là Đấng Vô Hình hay Chí-Tôn Thượng-Đế, tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
Hơn nữa, về hình thái tổ chức, cũng có một sắc thái tổng hợp Đại đồng Qui nguyên. Đó là Thánh ý Thiên cơ mà mỗi người Thiên ân, hướng Đạo phải tự tìm hiểu mới thông suốt được lẽ huyền nhiệm ấy.
Chính Đức Chí Tôn mở Đạo bằng huyền linh Thiên điển mà không giao chánh Pháp cho tay phàm. Chư Thiên ân nên lưu ý điều đó.
Buổi đầu Tiên huynh được Đức Thượng Đế chọn làm Môn đệ đầu tiên trong Tam Kỳ Phổ Độ.....
Khi Tiên Huynh được Đức Chí Tôn đem về, để lại một số đàn em đã dày công tu luyện, theo dõi gìn giữ Pháp tu.
Nhưng người đời còn thiên về bản ngã, chỉ có những bực chơn tu, các hàng minh triết mới thực hiện câu: Tam giới duy tâm, vạn Pháp duy thức. Pháp môn là phương tiện, mà Tâm mới thật sự là cứu cánh.
Mặc dầu bổn tâm của người đi trước không có ý lập Phái lập Chi, nhưng người đi sau kết thành lỗi lầm độc tôn cho người đi trước.
Thôi thì việc đã qua rồi, trăm dâu cũng đổ hết đầu tằm mà thôi!...Chính mỗi người Thiên ân phải tự khắc kỷ, đừng để lệ thuộc vào phương tiện Pháp-môn mà theo sở dục tư hữu của mình. Đừng mê vọng non Tần núi Sở, cao thấp! Ôi tất cả đều là mộng huyễn do sở dục tư hữu của con người, mà Chánh Pháp tức là Tâm Pháp thì đâu có điều chi để nói, để nêu lên, để tranh luận! "Pháp thị bổn vô pháp". Chư hiền đệ muội phải thấy được chỗ huyền nhiệm ấy mới hoàn thành được sứ mạng. .
Đến nay, Tiên huynh thực sự là đồ đệ của đức Chí Tôn Thượng Đế, là đàn anh của các em, mặc dầu có một số người vô ý thức......".
Sau khi đọc lời tâm sự của vị cao đồ của Thượng Đế và tiền bối khai Đạo, chúng ta mới thông cảm được nỗi khổ tâm của người bị mang tiếng lập Phái Chi, do lỗi lầm của người đi sau vì nặng tính suy tôn cá nhân thay vì nhìn nhận chỉ có Đức Chí Tôn Thượng Đế là Giáo Chủ sáng lập ra Đạo Cao Đài, ngoài ra không có vị tiền bối nào khác được quyền xưng là Giáo-Chủ cả.
Ngài không có ý lập Phái Chiếu-Minh như người lầm tưởng, sự thật rất minh bạch, rõ ràng. Hãy giải oan cho người xưa!
Hai chữ Chiếu Minh thật ra, xuất xứ từ câu đối, chúng ta đọc thấy trong Kinh Đại Thừa Chơn Giáo, trang 2, trong bài lời cầu nguyện của một tín đồ Chiếu Minh do Đức Chí Tôn ân ban như vầy:
CHIẾU sắc Đại Thừa qui bổn tánh,
MINH truyền Chơn Giáo phục linh căn.
Chúng ta nhận thấy có 2 chữ Chiếu Minh và bốn chữ Đại Thừa Chơn Giáo là ẩn ý sẽ có việc tả quyển Kinh "Đại Thừa Chơn Giáo", tham chiếu ở Sắc lịnh ban cho đàn Trước Tiết Tàng Thơ Gia Định phụ trách. (ĐTCG, tr.188). Kinh nầy ra đời là để truyền ra một cách sáng tỏ (Minh) nền Chơn Giáo Đại Thừa, để giúp người tu phục hồi linh căn bổn tánh của mình mà trở về hiệp nhứt cùng Đức Chí Tôn Thượng Đế.
Cũng nên nói rõ, Chiếu Minh không phải là một Chi Phái. Nếu Chi Phái thì như Bến Tre, Tiên Thiên hay Truyền Giáo thì có Hội Thánh, Chức sắc để điều khiển dẫn dắt số đông tín đồ, trong khi ở các đàn Chiếu Minh (vì quen gọi là Chiếu Minh rồi), chỉ đặt ở tư gia của những vị nào có phương tiện và không có quyên góp tiền của bá tánh để xây cất Thánh Thất hay Thánh Tịnh, không có Chức sắc, áo mão và không có đông tín đồ đến cúng kiến theo nghi thức thờ phượng của một Chi Phái.
Đến ngày Sóc Vọng, lối mươi người đạo hữu, đến tại nhà tư nào đó, tạm gọi là Đàn để cúng Thầy, không đánh chuông, gõ mõ, chỉ hợp nhau lại công phu chung, đọc Thánh giáo, Thánh ngôn chỉ giản dị vậy thôi.
Sở dĩ ở Cần Thơ bổn đạo có xây một Tổ Đình để tưởng niệm công đức của ngài Ngô Minh Chiêu khi sanh tiền đã ở đó tu luyện theo Pháp-môn của Đức Cao Đài Thượng Đế truyền dạy và ngài liễu đạo bỏ xác nơi đây bổn đạo có xây Tháp cho Ngài tại nghĩa địa phía trước Thánh Đức Tổ Đình cách thành phố Cần Thơ khoảng ba cây số. Hằng năm đến ngày 13 tháng 03 để kỷ niệm ngày thoát xác của Ngài, tín đồ các nơi tự động về viếng mộ (Tháp) của Ngài rất đông đảo.
Gọi tu theo "Chiếu Minh Vô Vi Tam Thanh" là tu theo Tâm Pháp Đại Thừa, khẩu thọ tâm truyền cho những người tu Thượng Thừa quyết tâm cầu tu giải thoát luân hồi sanh tử, nên điều kiện thọ Pháp rất khắc khe, khổ hạnh, là phải trường trai, tuyệt dục, giữ giới tinh nghiêm phải xin keo chấp nhận rồi mới được thọ Pháp và phải có đủ ngày giờ công phu tứ thời.
Tam Thanh là Tam-bửu: Tinh, Khí, Thần để luyện thành một xác thân Thiêng Liêng, huyền diệu gọi là nhị xác thân (périsprit) khi thoát xác Chơn-Thần sẽ nương theo đó mà trở về hiệp nhứt cùng Thượng-Đế như đức Chí Tôn đã từng dạy trong TNHT. do Tòa Thánh Tây Ninh xuất bản năm 1972, trang 26 (17/ 7/1926).
Còn như hai chữ Phổ Độ, Đức Chí Tôn Thượng Đế cũng đã giải thích rõ ràng. (TNHT, tr. 13/1972).
"Tam Kỳ Phổ Độ là gì?
* Là Phổ Độ lần thứ ba.
Sao gọi là Phổ Độ?
* Phổ là bày ra - Độ là cứu Chúng sanh.
Chúng sanh là gì?
*Chúng sanh là toàn cả nhơn loại, chớ không phải lựa chọn một phần người, như ý phàm các con tính rỗi ".
Như vậy không có Phái Phổ Độ để phân biệt với Phái Vô-vi.
Dầu tu theo Vô-vi cũng phải lo luyện kỷ trước rồi mới lo hóa nhơn, tức Phổ độ người sau, chớ không phải khi đắc quả rồi không lo độ người. Có khác chăng là, trước lo ẩn tu để dễ bề tu thân luyện Đạo, rồi sau cũng phải lo độ đời để giữ tròn câu thệ nguyện và cũng khỏi mang tiếng miệng đời gọi rằng “Độc thiện kỳ thân”.
Còn ở hàng tu theo Phổ Độ là những hàng Nguyên căn đã thệ nguyện giáng trần giúp Thầy lập Đạo, hiến thân lãnh nhiệm vụ Thiên Phong chức sắc để hành Đạo giúp Thầy. "Đó là những Môn sanh có trách nhiệm lớn lao về Đạo (TNHT., tr. 160), đã lãnh mạng với Tam Giáo Tòa, xuống chịu mình với chúng sanh lúc Tam Kỳ Phổ Độ nầy, đều có cam đoan hứa làm tròn phận sự. Mỗi vị đều mang nặng nơi mình một phần trách cứ chẳng nhỏ. Nếu Đạo chẳng thành thì phần phạt Thiêng Liêng vì cân tội phước mà định đoạt ".
Tóm lại, mỗi vị Môn sanh Thượng Đế giáng trần để giúp Thầy Chí Tôn lập Đạo đều có đại nguyện trước Tam Giáo Tòa, ai có phần trách nhiệm nấy.
Còn ai có duyên phần tiền căn sẵn có và có đủ điều kiện, có đủ Đại hùng, Đại lực, thì tu theo Tâm-Pháp Chiếu-Minh Vô-vi, rồi cũng có trách nhiệm riêng phần mình. (Cũng xin lưu ý đừng lầm lộn với Pháp Lý vô vi khoa học huyền bí không thuộc Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ).
Người tín đồ Đại Đạo không nên cố chấp phân nhơn ngã, Phái, Chi mà đắc tội với Thiêng Liêng, hãy giữ phận người tu, đừng đứng núi nầy trông núi nọ, phân cao thấp, Chánh tà, hãy lo tu luyện giữ Chánh Tâm, gìn Chánh Tín, hành chánh Đạo, thì sẽ được Ơn Trên hộ trì dẫn dắt, còn việc thành chánh quả sau nầy, đừng mong vọng, khi công viên quả mãn là lẽ đương nhiên kết thành quả vị.
Ơn Trên đã minh xác như vậy nhiều lần rồi.
"Tu tâm chớ vọng điều cao thấp,
Thấp bởi lòng mình quá bấp bênh.
XIN KẾT LUẬN:
Phổ Độ thuộc về Công-Truyền, Vô-Vi thuộc về Tâm Truyền. Người tu hành muốn đắt Đạo, để hội nhập với thế giới Thần Tiên, phục vụ Thượng Đế, trong Cơ Tận độ quần linh, phải hội đủ hai giai đoạn.
Đức Ngô Minh Chiêu vị cao đồ đầu tiên của đức Cao Đài Thượng Đế, đã thực hiện đầy đủ cả hai giai đoạn, từ việc giúp các vị Tiền bối ban sơ dọn đường cho sự khai minh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, theo lệnh Đức Chí Tôn Đại Từ Phụ, cho đến việc trao truyền Tâm-pháp luyện Đạo vô-vi mà Ngài đã thọ được trực tiếp nơi Đức Chí Tôn Thượng Đế từ năm Tân Dậu (1921) tại quận Dương Đông trên đảo Phú Quốc cho một số người đã có duyên phần và đủ điều kiện thọ Tân Pháp Cao Đài và đã để lại ấn chứng nêu gương cho đời sau, (xin đọc ĐTCG bản in 1950, Chương III, Ấn chứng Thiêng Liêng trang 223-266). Chúng ta hãy nghe Ngài trình bày qua đoạn Thánh Giáo:
Mấy mươi năm phong trần cháy da phỏng trán, gẫm cuộc đời hiện tại có chi đâu ! Cũng lưng mỏi gối dùn, cũng da mồi tóc bạc, duy có Tâm còn làm chủ biết mê giác, nên hư, đó là nhờ đâu? Có phải nhờ hiểu biết được mình, hiểu biết được Đạo, mình với Đạo là một, cùng Trời Đất không hai, nên mới chọn con đường về nguyên đúng hướng, có Thầy dìu, bạn dắt.
Ngày nay tuy lòng người còn phân cách Công Truyền, Tâm Truyền, nhưng đến một lúc nào đó sẽ thấy phải có đủ Công truyền, Tâm truyền mới tạo Tiên tác Phật được .
Thử nhìn lại lịch sử từ ngàn xưa, không có vị Phật Tiên nào mà thiếu một trong Tam-công (1) hay không tròn bổn phận làm người Hiếu, Trung vẹn vẻ cả.
Trần gian là cả một trường tiến hóa. Người học trò giỏi thì sẽ đậu cao, còn mang danh học trò mà không biết sử dụng chữ nghĩa vào đâu cả, thì công sao thành danh sao toại? Chỉ một thí dụ đó thôi cũng đủ cho người đời thức tỉnh để hiểu điều nầy. Chơn lý không tùy thuộc vào một vị trí riêng tư nào, mà phải có Thiên Nhơn tổng hợp, mới là đúng Đạo.
Tuy nhiên, Thượng Đế cũng đã dành sẵn một chỗ trong Tam Thập Lục Thiên làm nơi an nghỉ cho hàng Tiên, Thánh, Thần có tâm học Đạo, nhưng chưa đủ quả đức để thành tựu đến cõi vô sanh, khi đã hưởng hết Hồng ân, lại phải do nơi sự tu tiến mà trở xuống trần gian tiếp tục luyện Đạo " (Đàn cơ tại Minh Đức Tu Viện, 6/3/81).
*Lưu-ý: Thánh giáo của Đức Chí Tôn cũng đã dạy như vậy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển và Đại Thừa Chơn Giáo rồi.
Lúc sanh tiền, Ngài Ngô Minh Chiêu có dạy đệ tử tu theo bài Thập Thanh Điều dưới đây trong đó Ngài dạy phải Chánh kỷ cho tròn mới hóa nhơn và khuyên lập nết ôn hòa để độ dân. Với hai chữ Hóa nhơn và độ dân, chứng tỏ Ngài không dạy đệ tử "Độc thiện kỳ thân" và không lãng quên đại nguyện của Ngài: "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" mà Ngài dịch nôm ra như vầy:
"Một là sanh chúng hằng hà,
Dốc lòng cứu vớt lòng ta thề nguyền"
Thập Thanh Điều:
Một khuyên giảm khẩu bớ con,
Hai khuyên chánh kỷ cho tròn hóa nhơn.
Ba khuyên giảm tánh giận hờn,
Bốn khuyên giữ lễ chớ lờn oai Tiên.
Năm khuyên kính mến người hiền,
Sáu khuyên đậy mắt lánh miền thị phi.
Bảy khuyên học chữ Từ Bi,
Tám khuyên hành Đạo kịp kỳ Long Hoa.
Chín khuyên suy xét gần xa,
Mười khuyên lập nết ôn hòa độ dân./.
CHÍ TÍN